Hỏi đáp - Diễn đàn
[ New messages · Members · Forum rules · Search · RSS ]
Page 1 of 3123»
Diễn đàn » THÔNG TIN MÔN HỌC » Hiếp Pháp » Hỏi đáp (tham khảo)
Hỏi đáp
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 8:11 AM | Số tin # 1
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
ÔN TẬP

LUẬT HIẾN PHÁP & TC.BMNN

Câu 1: Tại sao nói HP là đạo luật cơ bản của Nhà nước ta? Sự khác nhau giữa HP & Luật HP?

Trả lời: Có 4 lý do để cho rằng HP là đạo luật cơ bản của Nhà nước ta:
Xét về mặt thẩm quyền ban hành thì HP là văn bản do cơ quan quyền lực NN cao nhất ban hành & thông qua (Quốc hội).

Xét về mặt nội dung, HP qui định điều chỉnh 1 phạm vi rộng lớn các lĩnh vực quan hệ XH cơ bản & quan trọng nhất. Những quan hệ này là csở pháp lý để xây dựng nên chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chế độ văn hoá XH, quốc phòng an ninh, đối nội đối ngoại, quyền & nghĩa vụ cơ bản của công dân, nguyên tắc tổ chức hoạt động của BMNN.

Xét về mặt hiệu lực thì HP là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, là csở để xây dựng nên toàn bộ hệ thống pháp luật của quốc gia. Tính tối cao của HP được thể hiện như sau:

-Tất cả văn bản pháp luật khác được ban hành phải trên csở HP, không trái hay mâu thuẫn với HP.

-Tất cả điều ước quốc tế mà VN ký kết & tham gia chỉ có giá trị thực hiện ở VN khi phù hợp với HP.

-Tất cả các cơ quan NN, CBCC NN & mọi công dân phải tôn trọng & tuân thủ HP.

Xét về mặt trình tự thủ tục sửa đổi ban hành Luật HP: HP chỉ được ban hành hoặc sửa đổi khi đất nước chuyển sang giai đoạn ccáh mạng mới với những nhiệm vụ chiến lược mới. Đồng thời phải được tiến hành theo 1 trình tự thủ tục nghiêm ngặt & phải được ít nhất 2/3 đại biểu Quốc hội tán thành.

*Sự khác nhau giữa Luật HP & HP:

HP không phải là 1 ngành luật mà là 1 đạo luật, 1 văn bản pháp luật, là nguồn chủ yếu của bất cứ 1 quốc gia nào.

Luật HP là 1 ngành luật có đối tượng, phương pháp điều chỉnh, bao gồm cả HP, HP là nguồn chủ yếu.

Câu 2: Trình bày hoàn cảnh ra đời, nội dung cơ bản & ý nghĩa lịch sử của Hiến pháp 1946:

*Hoàn cảnh ra đời:

CMT8 thành công, ngày 2/9/1945, chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ lâm thời đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh nước VNDCCH. Tại phiên họp đầu tiên (3/9/1945) của chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết. Trong đó quan trọng là việc sớm tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội và xây dựng Hiến pháp. Ngày 8/9/1945, HCM ký sắc lệnh số 14 quyết định tổ chức tổng tuyển cử và bầu quốc dân ĐH. Ngày 20/9/1945 HCM ký sắc lệnh số 34 thành lập Ban dự thảo HP của CP lâm thời gồm 7 người do HCM đứng đầu. Tháng 11/1945, bản dự thảo HP đã hoàn thành & được đưa ra trưng cầu ý dân. Ngày 6/1/1946 cuộc tổng tuyển cử trong cả nước đã bầu ra được 333 đại biểu QH. Trên csở bản dự thảo HP & bản đóng góp của nhân dân, QH thành lập Ban dự thảo HP gồm 11 người do HCM đứng đầu. Ngày 9/11/1946, QH đã thông qua toàn văn bản HP với tỷ lệ 240/242.

*Nội dung cơ bản:

HP 1946 gồm lời nói đầu, 7 chương với 70 điều.

Lời nói đầu: tổng kết thành quả CM của ND ta nhất là 80 năm dưới thời kỳ Pháp thuộc, đề ra nhiệm vụ trọng tâm của dân tộc trong giai đoạn trước mắt là bảo tồn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn & kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ. Lời nói đầu còn xác định 3 nguyên tắc cơ bản để xây dựng HP là: đại đoàn kết toàn dân, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân, thực hiện 1 chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của ND.

Chương 1 (3 điều: 1 – 3): chính thể được HP xác định VN là 1 nước dân chủ công hòa. Về mặt cấu trúc hành chính NNVN là 1 khối thống nhất.

Chương 2 (18 điều: 4 - 21): quy định về quyền & nghĩa vụ của công dân. Quy định các quyền rất cơ bản & tiến bộ như: quyền bình đẳng trước PL, quyền bầu cử, ứng cử, quyền tư hữu TS, các quyền tự do dân chủ & tự do cá nhân, quyền phúc quyết hiến pháp & những vấn đề liên quan vận mệnh quốc gia… Công dân có nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc, tôn trọng HP & tuân theo PL.

Chương 3 (21 điều: 22 - 42): Nghị viện ND. Vị trí & tính chất: nghị viện là cơ quan có quyền lực cao nhất của nước VNDCCH. Cơ cấu tổ chức: có 1 cơ quan thường trực gọi là BTV Nghị viện gồm 1 nghị trưởng, 2 nghị phó và 12 nghị viên. Nhiệm vụ quyền hạn: nghị viện giải quyết vấn đề chung của toàn quốc, đặt ra PL, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước quốc tế.

Chương 4 (14 điều: 43 – 56): Chính phủ. Vị trí tính chất: CP là cơ quan hành chính cao nhất toàn quốc. Cơ cấu tổ chức: CP bao gồm chủ tịch nước, Phó CTN và nội các. Đứng đầu nội các là thủ tướng. Chủ tịch nước không chịu trách nhiệm nào trừ tội phản quốc, đồng thời CTN có quyền phủ quyết.

Chương 5 (6 điều: 57 - 62): HĐND và UBHC. HĐND & UBHC gồm 4 cấp (Bộ, tỉnh, huyện, xã). HĐND được lập ra 2 cấp: tỉnh & xã. UBHC được lập ra 4 cấp: bộ, tỉnh, huyện, xã.

Chương 6 (7 điều: 63 – 69): Cơ quan tư pháp. Tổ chức: chỉ có cơ quan tòa án mà không có VKS, tòa án được tổ chức theo cấp xét xử, bao gồm TATC, Tòa phúc thẩm, tòa nhị cấp, Tòa sơ cấp. Hệ thống t/c tòa án: Chánh án và thẩm phán do hành pháp bổ nhiệm (Chính phủ).

Chương 7 (Đ70) : sửa đổi hiến pháp.

*Ý nghĩa:

Đây là bản HP dân chủ tiến bộ đầu tiên trong lịch sử nước ta và cũng là bản HP đầu tiên của một nước CHDCND đầu tiên ở Đông Nam Á. HP ghi nhận những thành quả đấu tranh của ND ta dưới sự lãnh đạo của ĐCS và lần đầu tiên qui định 1 chỉnh thể dân chủ cộng hòa mang tính chất rộng rãi thể hiện ở chổ Nhà nước thuộc về ND.

Là bản HP tuyên bố công khai với TG rằng Việt Nam đã có độc lập chủ quyền và ngang bằng với các quốc gia khác. HP còn khẳng định và ghi nhận quyền & nghĩa vụ của công dân thể hiện địa vị làm chủ của công dân đối với NN và XH, đặc biệt là các quyền tự do cá nhân về chính trị, VHXH. HP còn được coi là tuyên ngôn của PN. HP đặt cơ sở pháp lý nền tảng cho việc xây dựng 1 bộ máy nhà nước kiểu mới theo ngtắc quyền lực thuộc về ND.

Mặc dù vậy HP chưa phải là HP XHCN mà mới chỉ là bản HP DCND và tuy không được thực hiện trên thực tế nhưng là lời hiệu triệu động viên nhân dân cả nước đứng lên đánh thắng thực dân Pháp xâm lược.

Câu 3: Trình bày hoàn cảnh ra đời, nội dung, ý nghĩa của HP 1959 (sửa đổi)
*Hoàn cảnh ra đời:

Năm 1959 về cơ bản miền Bắc đã hoàn thành sự nghiệp XHCN. Đảng đề ra 2 nhiệm vụ chiến lược cho CMVN là xây dựng CNXH ở miền Bắc và tiến hành CMDTDCND giải phóng miền Nam, trong đó nhiệm vụ xây dựng XHCN ở miền Bắc đóng vai trò quyết định. Vì vậy HP 1946 đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó và cần có 1 bản HP mới để đáp ứng tình hình nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Tại quốc hội khóa 1, kỳ họp thứ 6 ngày 23/11/1957 đã quyết định sửa đổi HP 1946 và thành lập Ban dự thảo HP do chủ tịch HCM đứng đầu. Ngày 1/4/1959 dự thảo HP sửa đổi được đưa ra trưng cầu ý dân. Ngày 31/12/1959 QH đã nhất trí thông qua bản HP sửa đổi và 01/01/1960 chủ tịch HCM ký sắc lệnh công bố hiến pháp.

*Nội dung cơ bản:

Lời nói đầu, 10 chương, 112 điều

Chương 1 (8 điều: 1 – 8): Nước Việt Nam DCCH. Qui định hình thức chính thể CHDCND (Đ2). HP tiếp tục khẳng định tất cả quyền lực trong nước thuộc về ND (Đ4). HP khẳng định nguyên tắc tổ chức hoạt động của BMNN là tập trung và dân chủ.

Chương 2 (13 điều: 9 – 21): chế độ kinh tế xã hội. Đây là chương mới so với HP 1946. HP xác định các hình thức sở hữu gồm 4 loại: sở hữu NN, sở hữu HTX và lao động riêng lẻ, sở hữu tư sản dân tộc. Chế độ quản lý kinh tế là kế hoạch hóa, quy định chính sách của NN đối với các thành phần kinh tế…

Chương 3 (21 điều: 22 – 42): Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. So với HP 1946 thì HP này có bước phát triển mới về số lượng nội dung về các quyền công dân, đặc biệt là có những những qui định công dân được thực hiện bao gồm các quyền lực chính trị, kinh tế, VHXH, các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân.

Từ chương 4 đến chương 8: quy định t/c BMNN bao gồm: quốc hội, CTN, HĐ Chính phủ, HĐND & UBHC các cấp, quy định hệ thống TAND các cấp, quy định mới VKSND các cấp. So với HP 46 thì HP59 đổi mới như sau: quy định 4 cấp chính quyền (TW, tỉnh, huyện, xã), mỗi cấp đều có HĐND & UBHC, TAND t/c ở cấp tỉnh và cấp huyện tương ứng với cấp chính quyền địa phương theo đơn vị hành chính lãnh thổ. Chế định CTN tách khỏi Chính phủ, chỉ còn là người đứng đầu NN không còn là người đứng đầu chính phủ. Quyền hạn của CTN hạn chế hơn rất nhiều so với HP 46 (không còn quyền ban sắc lệnh, phủ quyết dự luật đã được QH thông qua, không là chỉ huy quân đội chỉ là thống lĩnh các LLVT…). Hệ thống VKS được thành lập để thực hiện chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo HP, pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp chế trong phạm vi toàn quốc.

Chương 9: quy định quốc kỳ, quốc huy & Thủ đô

Chương 10: qui định về sửa đổi HP

*Ý nghĩa:

HP59 ghi nhận thành quả đấu tranh giữ nước và xây dựng đất nước của ND ta, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp CM ở nước ta (điều này ghi trong lời nói đầu của HP).

HP 59 thể hiện tính chất XHCN đầu tiên của nước ta, là văn bản có ý nghĩa pháp lý trong việc tổ chức thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Tuy chỉ thực hiện ở miền Bắc nhưng có ý nghĩa to lớn đối với đồng bào miền Nam, thể hiện quyết tâm xây dựng CNXH ở miền Bắc và là cương lĩnh đấu tranh để thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà.

Câu 4: Trình bày hoàn cảnh ra đời, nội dung, ý nghĩa của HP1980?

*Hoàn cảnh ra đời:

Sau đại thắng mùa xuân 1975, nước ta hoàn toàn độc lập, Nam – Bắc thống nhất một nhà. Tháng 9/1975, HN lần 24 của BCN.TW Đảng quyết định triệu tập HN hiệp thương chính trị thống nhất tổ quốc. Cả nước cùng thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược là xây dựng CNXH & bảo vệ TQ Việt Nam XHCN. HP59 không còn phù hợp với điều kiện và nhiệm vụ CM của nước ta trong giai đoạn mới. Ngày 25/4/1976 cuộc tổng tuyển cử trong toàn quốc đã bầu được 492 đại biểu (miền Bắc: 249, miền Nam: 243). Tại QH khoá 6, kỳ họp đầu tiên ngày 25/6/1976, HN đã ra 1 NQ quan trọng đổi tên nước thành nước CHXHCN Việt Nam & quyết định sửa đổi HP59, thành lập ban dự thảo HP gồm 36 đồng chí do Trường Chinh, chủ tịch UBTVQH đứng đầu. Ngày 18/12/1980 QH khóa 6 kỳ họp 7 đã thông qua toàn văn HP sửa đổi.

*Nội dung cơ bản:

Gồm lời nói đầu, 147 điều, 12 chương.

Chương 1: Chế độ chính trị (14 điều: điều 1 – 14). HP khẳng định bản chất của NN ta là NN chuyên chính vô sản, khẳng định các quyền dân tộc cơ bản: độc lập, chủ quyền thống nhất & toàn vẹn lãnh thổ. Lần đầu tiên HP khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với NN & XH không những trong lời nói đầu mà còn có 1 điều riêng (điều 4) qui định. Khẳng định tất cả quyền lực NN đều thuộc về ND, các cơ quan NN đều tổ chức hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

Chương 2: chế độ kinh tế (22 điều: 15 – 36). Qui định chỉ có 2 thành phần kinh tế với 2 hình thức sở hữu NN & sở hữu tập thể. NN độc quyền về ngoại thương & qui định quốc cầu hóa các cơ sở kinh tế tư bản & tư nhân (Đ18). Qui định nguyên tắc quản lý kinh tế thông qua công cụ là KH tập trung và bao cấp (Đ33)

Chương 3: chế độ VHXH (13 điều: 37 – 49). Qui định mục đích phương hướng của qua 1trình xây dựng nền VH mới XHCN. Khẳng định CN Mac – Lênin là hệ tư tưởng chỉ đạo sự phát triển của XH Việt Nam. NN bảo vệ phát triển những tinh hoa văn hoá dân tộc & tiếp thu tinh hoa văn hoá TG.

Chương 4: chế độ bảo vệ TQ (3 điều: 50 – 52). Lần đầu tiên trong HP bảo vệ TQ được qui định thành 1 chương riêng. Điều này thể hiện tầm quan trọng đặc biệt của công cuộc bảo vệ đất nước của những năm sau giải phóng. Xác định đường lối quốc phòng của NN ta là xây dựng 1 nền quốc phòng toàn dân toàn diện & hiện đại. Xác định nghĩa vụ của các LLVT nhân dân.

Chương 5: quyền & nghĩa vụ cơ bản của công dân (29 điều: 53 – 81). So với 2 bản HP trước đó, HP80 đã kế thừa và bổ sung rất nhiều quyền: quyền tham gia quản lý công việc của NN và XH (Đ59), quyền học không phải trả tiền (Đ60), khám và chữa bệnh không trả tiền (Đ61), quyền có việc làm, nhà ở (Đ62), quy định thêm công dân có nghĩa vụ tham gia xây dựng QPTD (Đ77(, nghĩa vụ lao động công ích (Đ78)… có nhiều quyền khôngcó tính khả thi vì không phù hợp với điều kiện kinh tế XH của nước ta lúc bấy giờ.

Chương 6: Quốc hội (16 điều: 82 – 97)). Qui định QH là cơ quan đại biểu cao nhất, cơ quan quyền lực cao nhất, cơ quan duy nhất có quyền lập hiến & hành pháp. Ccấu t/c của QH có sự thay đổi lớn: hợp nhất cơ quan chủ tịch nước & UBTVQH thành cơ quan Hội đồng NN. Về chức năng nhiệm vụ quyền hạn không thay đổi so với HP59.

Chương 7: Hội đồng Nhà nước. Đây là 1 chế định hoàn toàn mới so với HP46, HP59. HP xác định hội đồng NN là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên. Chức năng nhiệm vụ của HĐNN là rất lớn nó vừa thực hiện chức năng của UBTVQH vừa thực hiện chức năng của Chủ tịch nước.

Chương 8: Hội đồng bộ trưởng (9 điều: 104 – 112). Qui định cơ cấu t/c bao gồm: Chủ tịch HĐBT, các PCT, các bộ trưởng & chủ nhiệm UBNN. Về vị trí & tính chất thì HĐBT là chính phủ của nước CHXHCNVN, là cơ quan chấp hành & hành chính NN cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

Chương 9: Hội đồng ND & UBND (14 điều: 113 – 126). Quib định các đơn vị HC gồm 3 cấp, bỏ khu tự trị nhưng lập ra đơn vị hành chính đặc khu và đơn vị phường tương đương cấp xã. Ơû tất cả các đơn vị HC đều thành lập HĐND &UBND. Vị trí tính chất quyền hạn và nhiệm vụ cơ bản giống như HP59.

Chương 10: TAND & Viện KSND (15 điều: 127 – 141). Về chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức hoạt động giống như HP59. HP 80 bổ sung thêm điều 127 qui định nhiệm vụ chung của TAND &VKSND.

Chương 11: Qui định quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, thủ đô (4 điều: 142 – 145)
Chương 12: hiệu lực HP & sửa đổi HP (146 – 147).

*Ý nghĩa:

HP80 là bản HP.XHCN để cả nước đi lên CNX. Nội dung của HP có sự phát triển về t/c BMNN mở rộng thêm nhiều & qui định nhiều nghĩa vụ trong công dân nhưng nặng thể hiện duy ý chí, chủ quan nóng vội không xuất phát từ tình hình khách quan của đời sống XH Việt Nam.

Tuy có những hạn chế nhất định nhưng HP80 vẫn có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử lập hiến nước ta. HP của thời kỳ quá độ lên CNXH trong phạm vi cả nước, thể chế hóa cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm hcủ, NN quản lý.
Câu 5: Trình bày sự phát triển của chế định Chủ tịch nước qua các qui định của HP?

HP1946:

Do bối cảnh chính trị pháp lý nên chủ tịch nước được thiết kế nằm trong bộ máy hành pháp với địa vị pháp lý rất đặc biệt (giống chính thể tổng thống). Là nguyên thủ quốc gia, đứng đầu bộ máy hành pháp mặc dù không đứng đầu chính phủ (nội các, thủ tường).

Do quốc hội bầu trong số các đại biểu QH. Nhiệm vụ, quyền hạn rất lớn: quyền vécto (quyền phủ quyết) quyền miễn trừ trách nhiệm.

HP 1959:

Chủ tịch nước được tách khỏi CP thành 1 chế định độc lập trong BMNN. Do QH bầu nhưng không nhất thiết là ĐBQH (công dân từ 35 tuổi đều có quyền ứng cử để bầu vào)

Nhiệm vụ quyền hạn: hạn chế nhiều so với HP46, HP80 & HP92.
Không có quyền phủ quyết, miễn trừ trách nhiệm. Không có quyền bổ nhiệm các chức danh của hệ thống tư pháp.

HP1980:
Chủ tịch nước là 1 chế định độc lập trong BMNN (HĐNN) nhưng đặt dưới quốc hội.

Cơ cấu tổ chức: chủ tịch HĐNN, các Phó CT, tổng thư ký, các ủy viên.
Chủ tịch nước là nguyên thủ tập thể, cơ quan thường trực của QH (kết hợp giữa cơ quan UBTVQH & Chủ tịch nước).
Nhiệm vụ quyền hạn rất lớn, thực hiện chức năng thẩm quyền của UBTVQH & CTN.

Tính tập trung cao nhưng mất đi tính sáng tạo của cơ quan.

HP1992:
CTN là người đứng đầu NN thay mặt nước về đối nội và đối ngoại.
Do QH bầu trong số ĐBQH theo sự giới thiệu của UBTVQH (Bộ Chính trị). Chịu trách nhiệm & báo cáo công tác trước QH. Nhiệm kỳ của CTN theo nhiệm kỳ của QH. Nhiệm vụ quyền hạn rất rộng lớn.

Câu 6: Mối quan hệ giữa chủ tịch nước & các cơ quan NN trung ương?
*Quan hệ giữa Chủ tịch nước với cơ quan lập pháp Trung ương (Quốc hội):
Chủ tịch nước không thể ngang hoặc bằng với QH vì CTN do QH bầu trong số các ĐBQH theo sự giới thiệu của UBTVQH, và được quyền bãi miễn CTN. Chủ tịch nước có quyền đề nghị QH bầu & bãi miễn Phó CTN, Thủ tướng chính phủ, Chánh án TANDTC, viện trưởng VKSNDTC. Chủ tịch nước công bố HP, luật, pháp lệnh, có quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật trước QH, ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình (điều 106 HP92).

Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước QH. QH xem xét báo cáo của CTN, bãi bỏ các lệnh, quyết định của CTN nếu trái với HP, luật & nghị quyết của QH. CTN phải trả lời chất vấn của các ĐBQH.

Chủ tịch nước căn cứ vào NQ của QH để công bố quyết định đại xá đối với những người phạm tội hoặc công bố tình trạng chiến tranh, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc từng địa phương.

Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của UBTVQH, yêu cầu UBTVQH triệu tập phiên họp bất thường của QH khi cần thiết.

*Với cơ quan hành pháp (Chính phủ):

Theo HP92 CTN không phải là người đứng đầu CP nhưng với tư cách là nguyên thủ quốc gia có quyền đề nghị bầu, miễn – bãi nhiệm PCT nước, Thủ tướng chính phủ. Căn cứ NQ của QH hoặc UBTVQH, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức phó Thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của chính phủ. (Đ103). Tham dự các phiên họp của CP khi cần thiết, nghe báo cáo của Chính phủ và thủ tướng. Chủ tịch nước là chủ tịch HĐQP-AN thống lĩnh LLVTND, phê chuẩn các điều ước quốc tế do chính phủ ký kết.

*Với cơ quan tư pháp (TAND & VKSND):

CTN có quyền đề nghị QH bầu, miễn, bãi nhiệm Chánh & Viện trưởng VKSNDTC. Căn cứ đề nghị của Chánh án & Viện trưởng VKSNDTC, thực hiện bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án & thẩm phán TANDTC, phó viện trưởng & kiểm sát viên VKSNDTC. (Đ103 – HP92). Quyền này trước đây giao cho UBTVQH trong HP59 và HP80 giao cho HĐND.QH khóa 9 tại kỳ họp thứ 1, giao thêm cho CTN quyền bổ nhiệm, cách chức CA, PCA, thẩm phán các tòa địa phương & tòa án quân sự (Đ38 – Luật TCTAND), giúp các thẩm phán xét xử độc lập, không bị lệ thuộc vào HĐND cùng cấp. Quyết định đặc xá.

Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Thứ 5, 2010-03-18, 2:41 PM
 
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 8:12 AM | Số tin # 2
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
CHÍNH THỂ NN VN:
*Khái niệm:
- Chính thể là một trong 3 bộ phận cấu thành của hình thức NN
- Chính thể NN thể hiện:
+Nguồn gốc quyền lực NN
+Cách thức thành lập và mối quan hệ qua lại của các CQNN ở trung ương với nhau.
+Mức độ tham gia của nhdân vào việc tổ chức quyền lực NN
* Chính thể NNVN theo HP1946:
- Cho đến trước năm 1945 là chính thể quân chủ chuyên chế
- CMT8 thành công đã xoá bỏ chế độ thực dân phong kiến, xác lập chính thể công hoà
- CI HP1946 có tên gọi Chính thể, Điều 1 trịnh trọng tuyên bố:”Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.
- Đặc điểm chính thể theo HP1946:
+Không theo cộng hoả kiểu tư sản
+Không hoàn toàn là cộng hoả Xô viết
· Vừa có dấu hiệu của cộng hoà đại nghị:
Nguyên thủ quốc gia do Nghị viện bầu
Nội các thành lập trên csở Nghị viện và chịu trách nhiệm trước Nghị viện
· Vừa có dấu hiệu của Cộng hoà tổng thống
Chủ tịch nước đứng đầu NN và đứng đầu CP (đứng đầu quyền hành pháp) có quyền rất rộng lớn, trong đó có quyền phủ quyết luật của Nghị viện thông wa
- Chủ tịch nước không chịu trách nghiệm trước nghị viện
· Vừa khác Cộng hoà Đại nghị cà cộng hoà tổng
thống : Nguyên thủ quốc gia (chủ tịch nước) có quyền ban hành sắc lệnh (có giá trị như đạo luật)
* Chính thể NNVN theo HP1959:
-Tên gọi vẫn là: “Nước VN dchủ cộng hoà” nhưng đã là chính thể kiểu Xô viết (hay chính thể XHCN), tuy vẫn còn một số yếu tố của cộng hoà dchủ nhdân
· Thê hiện chính thể kiểu xô viết:
- QH là cơ quan quyền lực NN cao nhất
- CP là CQ chấp hành of QH
- Các CQNN then chốt ở TW “phái sinh” từ QH và chịu tr.nhiệm trước QH
· Còn dấu ấn của cộng hoà dân chủ nhdân
- Nguyên thủ quốc gia là chủ tịch nước.
- CP độc lập tương đối so với QH: là CQ HC NN cao nhất.
* Chính thể NNVN theo HP 1980:
Chính thể NNVN theo HP 1980 là CHXHCNVN, đã đi theo mô hình chính thể XHCN truyền thống. Thể hiện:
- Quyền lực NN được tập trung vào QH
+QH có quyền lập hiến, lập pháp
+QH quyết định chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại
+QH lập ra các CQ NN then chốt ờ TW.
+QH có quyền giám sát tối cao, có quyền quyết định cho mình những quyền khác
- HĐBT là CP của nước CHXHCNVN (là CQ chấp hành và HC NN cao nhất của CQ quyền lực NN cao nhất) do QH bầu ra, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước QH
- Nguyên thủ quốc gia là một tập thể (HĐNN) được HP xác định là CQ cao nhất hoạt động thường xuyên của QH, là chủ tịch tập thể của nước ta
- Quy định rõ: ĐCSVN lãnh đạo NN&XH. Đảng có mục đích tôn chỉ xây dựng CNXH tiến tới CNCS
* Chính thể NNVN theo HP 1992:
- Là CHXHCNVN, nhưng có những đổi mới quan trọng:
+Nguyên tắc phân công và phối hợp thực hiện quyền lực NN
+ Qh tập trung chủ yếu vào hoạt động lập pháp
+Bỏ HĐNN, khôi phục 2 chế định: Chủ tịch nước và UBTVQH
+Tính độc lập của CP trong mối qhệ với QH rõ hơn
+ Tăng cường quyền hạn, trách nhiệm người đứng đầu NN, đứng đầu CP.


Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Thứ 4, 2010-03-17, 12:38 PM
 
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 8:13 AM | Số tin # 3
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
ĐIỂM GIỐNG & KHÁC NHAU GIỮA HP 1946 & HP 1992

Giống nhau

• Về Các chương mở đầu đều ghi nhận thành quả của cách mạng việt nam.
• Về Quy định Quốc kỳ ;Quốc huy; Quốc ca; Thủ đô;ngày Quốc khánh
• Mọi công dân đều bình đẳng về quyền, nghĩa vụ và bình đẳng trước pháp luật.quyền bầu cử, ứng cử, bãi miễn các đại biểu, phúc quyết.
• Chế độ bầu cử là phổ thông đầu phiếu, tự do, trực tiếp, kín...
• Chế độ bầu cử là phổ thông đầu phiếu, tự do, trực tiếp, kín...
• Có cơ quan quyền lực cao nhất đại diện cho nhân dân là Quốc Hội hay Nghi Viện Nhân Dân .họp công khai công chúng phải được nghe biết.
• Có chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc
• Có HĐND và UBND các cấp thực hiện quản lí và giám sát ở địa phương có cơ cấu tổ chưc chung thống nhất,có tinh thần dân chủ cao, đông thời chứa tính tập chung cao
• Quy định về bộ máy tư pháp.
• Về quy định sửa đổi Hiến Pháp.
• Nhân viên UBTCQH không được tham dự vào chính phủ.

Khác nhau

HIẾN PHÁP 1946
• Bao quát chung các vấn đề của đất nước với 7 chương &70 điều
• Đặt quy định nghĩa vụ lên trước quyền lợi và có nghĩa vụ phải đi lính
• Chính phủ thì có nét độc đáo về hình thức tổ chức nhà nước: Chủ tịch nước vừa đứng đầu chính phủ vừa đứng đầu nhà nước, có quyền phủ quyết được bầu ra từ Nghị Viện và có quyền chon Thủ Tướng.
• Không có HĐND cấp huyện.
• Có ban tư pháp xã
• Không có viện kiểm sát
• HĐND cấp xã bầu ra UB hành chính cấp xã và huyện và HĐND cấp tỉnh bầu ra UB hành chính cấp tỉnh và bộ.
• Chính phủ bổ nhiệm tất cả các tòa án từ tối cao đến sơ cấp.
• Ngắn gọn, súc tích, rõ ràng,cụ thể, dễ hiểu và dễ thực hiện
• Nghị Viện Nhân Dân thay cho Quốc Hội và có quyền lực cao nhất.
• HĐND không có cơ quan thường trực

HIẾN PHÁP 1992
• Đi sâu vào nhiều vấn đề của đất nước với 12 chương 147 điều
• Quy đinh 1 cách cụ thể quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân
• Chính phủ có nhiều thay đổi:Thủ Tướng do QH bầu miễn, bãi nhiệm.
• Thủ Tướng có vai trò cao hơn có thêm nhiều quyền hạn và xác định nhiệm vụ rõ ràng trước nhân dân.
• Có thêm chương quy định về VH-GD-KH-CN và chương Quy định chế độ kinh tế là kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng XHCN.
• Có HĐND cấp huyện.
• Chủ Tịch nước chỉ là nguyên thủ Quốc Gia
• Các tòa án và viện kiểm sát hoạt động độc lập được Quốc Hội bổ nhiệm
• Các cơ quan hành chính cấp dưới hoạt động chịu sự chi phối của cơ quan cấp trên.
• Quốc Hội có quyền cao nhất và đề cao vai trò của đại biểu Quốc Hội.Mặt Trận Tổ Quốc VN có vị trí quan trọng làm cơ quan giám sát moi hoat động của NN
• Tất cả các HĐND đều có cơ quan thường trực.

Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Thứ 4, 2010-03-17, 9:03 AM
 
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 8:19 AM | Số tin # 4
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
Sơ đồ tổ chức của Quốc hội CHXHCNVN
(Theo Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 (thông qua ngày 25 - 12 - 2001) tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá X, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007 (thông qua ngày 02 - 4 - 2007) tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá XI))
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Quốc hội được khái quát như sau:
File đính kèm: 0041614.png(60Kb)


Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Thứ 4, 2010-03-17, 9:05 AM
 
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 8:25 AM | Số tin # 5
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
CHẾ ĐỊNH CHỦ TỊCH NƯỚC TRONG LỊCH SỬ LẬP HIẾN VIỆT NAM

I. Sơ lược về nguyên thủ quốc gia và Chủ tịch nước:

Chế định nguyên thủ quốc gia là một chế định quan trọng trong thể chế chính trị. Nhưng mỗi nước nguyên thủ quốc gia có tên gọi (vua, Hoàng đế, Tổng thống, Đoàn Chủ tịch hội đồng liên bang, Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch nước), vị trí, chức năng khác nhau tuỳ thuộc vào thể chế chính trị và cách thức tổ chức nhà nước. Nhưng có một điểm chung là đều là người đứng đầu Nhà nước, đại diện cho Nhà nước về đối nội và đối ngoại. Ở nước ta, nguyên thủ quốc gia tồn tại dưới hình thức Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1946, 1959, 1992, riêng Hiến pháp năm 1980 Chủ tịch nước tồn tại dưới hình thức là Hội đồng Nhà nước, là một chế định nguyên thủ quốc gia tập thể.

Về mặt bản chất, nguyên thủ quốc gia là một chế định thuần tuý của bộ máy Nhà nước tư sản. Khi cách mạng tư sản diễn ra và dành thắng lợi, giai cấp tư sản chiến thắng giai cấp phong kiến và lập ra bộ máy cai trị mới. Trong bộ máy đó có sự xuất hiện của một thể chế mới, đó là thể chế nguyên thủ quốc gia. Như vậy, về cơ bản thiết chế nguyên thủ quốc gia của các nước trên thế giới hiện nay đều được xây dựng dựa trên thiết chế của nhà nước tư sản . Nhìn chung sự hiện diện của nguyên thủ quốc gia ở các nước tư bản với nhiều vẻ khác nhau song cũng đóng một vai trò nhất định trong việc tổ chức quyền lực nhà nước. Đặc biệt là vai trò biểu tượng cho dân tộc, liên kết phối hợp các nhánh quyền lực thể hiện quan điểm thỏa hiệp giai cấp tại các nước tư bản.

Đến nhà nước xã hội chủ nghĩa, bộ máy nhà nước được tổ chức theo chế độ tập quyền, thì về nguyên tắc thiết chế nguyên thủ quốc gia riêng là không cần thiết, nếu không muốn nói là không dung hợp. Tại một số nước XHCN khác do truyền thống lịch sử của mình, còn lưu giữ thiết chế chủ tịch nước, thì chủ tịch nước tuy được coi là nguyên thủ quốc gia đứng đầu nhà nước, song phái sinh từ cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và cùng cơ quan này thực hiện các chức năng nguyên thủ. Sự hiện diện các biểu hiện “nguyên thủ quốc gia” trong cơ chế nhà nước XHCN phần nhiều là do thông lệ quốc tế - để thuận lợi trong việc thực hiện một số hoạt động nhà nước có tính chất long trọng, hình thức và chừng mực nhất định, để phối hợp hoạt động của các cơ quan trong cơ chế nhà nước. Vị trí thứ hai này của “nguyên thủ quốc gia” xã hội chủ nghĩa khá khác nhau, tùy thuộc vào từng nước.

Trong cơ chế nhà nước ta như đã nói ở trên, thiết chế nguyên thủ quốc gia được tổ chức khác nhau qua các bản Hiến pháp. Ở Hiến pháp năm 1946 và 1959 là Chủ tịch nước. Đến Hiến pháp năm 1980 là Hội đồng nhà nước, và hiện nay, tại Hiến pháp năm 1992 trở lại hình thức Chủ tịch nước. Vị trí, tính chất, chức năng quyền hạn và mối quan hệ của thiết chế này đối với các cơ quan khác cũng khác nhau theo từng giai đoạn phát triển của tổ chức nhà nước. Trong từng hiến pháp có sự kế thừa và phát triển những nguyên tắc căn bản của tổ chức bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa nói chung và chế định nguyên thủ quốc gia nói riêng.

II. Chế định Chủ tịch nước trong lịch sử lập hiến Việt Nam

1. Chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp năm 1946:

Sau cách mạng tháng Tám, nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ra đời là nhà nước dân chủ nhân dân. Với bản Hiến pháp 1946, bộ máy Nhà nước đã bước đầu được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền song vẫn còn mang nhiều cách tổ chức theo kiểu đại nghị, thể hiện ở Nghị viện nhân dân và chính phủ liên hiệp với sự đoàn kết rộng rãi ở các lực lượng, giai cấp, đảng phái.

Sự ra đời của chế định Chủ tịch nước trong hiến pháp 1946 có thể nói bắt đầu từ chủ trương thành lập một chính phủ nhân dân cách mạng theo tinh thần đoàn kết rộng rãi tất cả các tầng lớp nhân dân.

a) Vị trí, tính chất, trật tự hình thành:
Về vị trí, tính chất của Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 1946, từ những quy định về cách thức thành lập và thẩm quyền của Chủ tịch nước thì Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước đồng thời là người đứng đầu Chính phủ.

Tính chất đứng đầu Nhà nước (nguyên thủ quốc gia) của Chủ tịch nước thể hiện ở chỗ: Chủ tịch nước thay mặt cho nước, giữ quyền tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, bổ nhiệm thủ tướng, Nội các, ban bố các đạo luật đã được Nghị viện quyết nghị, thưởng huy chương và bằng cấp danh dự, đặc xá, kí hiệp ước với các nước, phái đại biểu Việt Nam đến nước ngoài và tiếp nhận đại biểu ngoại giao của các nước, tuyên chiến hay đình chiến.Vị trí đứng đầu Nhà nước này cũng giống như ở các nước dân chủ, là có sự phân công phối hợp giữa Nghị viện, Ban thường vụ và Chủ tịch nước.

Tính chất đứng đầu Chính phủ thể hiện ở chỗ Chủ tịch nước Chủ toạ Hội đồng Chính phủ, cùng với Chính phủ ban hành các sắc lệnh quy định các chính sách thi hành các đạo luật và quyết định của Nghị viện.

Về trật tự hình thành, Hiến pháp năm 1946 quy định tại Điều 45: "Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà chọn trong Nghị viện nhân dân và phải được hai phần ba tổng số nghị viên bỏ phiếu thuận.
Nếu bỏ phiếu lần đầu mà không đủ số phiếu ấy, thì lần thứ nhì sẽ theo đa số tương đối.
Chủ tịch nước Việt Nam được bầu trong thời hạn 5 năm và có thể được bầu lại.
Trong vòng một tháng trước khi hết nhiệm kỳ của Chủ tịch, Ban thường vụ phải triệu tập Nghị viện để bầu Chủ tịch mới."

b) Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước:

Chủ tịch nước có các Thẩm quyền sau đây:
* Thẩm quyền đối với quốc gia:
Thay mặt cho nước (Điểm a Điều 49); tổng chỉ huy quân đội và các lực lượng vũ trang (Điểm b Điều 49); tặng thưởng huy chương và các bằng cấp danh dự (Điểm e Điều 49); kí hiệp ước với các nước (Điểm h Điều 49); tuyên bố đình chiến hay tuyên chiến theo quy định của Nghị viện (Điểm k Điều 49).

* Thẩm quyền đối với các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp:
- Đối với quyền lập pháp: Chủ tịch nước là thành viên của Nghị viện, có quyền ban bố các Đạo luật đã được Nghị viện quyết nghị (Điểm đ Điều 49); có quyền yêu cầu Nghị viện về sự tín nhiệm Nội các; có quyền triệu tập phiên họp bất thường; và quyền phủ quyết tương đối các dự án luật (có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại các đạo luật trước khi ban bố).

- Đối với quyền hành pháp: Chủ tịch nước là thành viên Chính phủ, trực tiếp điều hành Chính phủ bằng cách chủ toạ các phiên họp Chính phủ; Chủ tịch nước kí sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng Chính phủ, nhân viên Nội các và nhân viên cao cấp thuộc các cơ quan Chính phủ (Điểm c Điều 49), các đại sứ (Điểm i Điều 49); kí các sắc lệnh của Chính phủ; yêu cầu Nghị viện thảo luận lại vấn đề tín nhiệm Nội các

- Đối với quyền tư pháp: Chủ tịch nước có quyền đặc xá (Điểm g Điều 49) và công bố đại xá

c) Quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan Nhà nước khác
* Mối quan hệ với Nghị viện:
Chủ tịch nước có những quyền hạn lớn đối với Nghị viện như: yêu cầu Nghị viện thảo luận lại những luật mà Chủ tịch nước không đồng ý (Điều 31); Chủ tịch nước không phải chịu một trách nhiệm nào trừ khi phản bội Tổ quốc (Điều 50).
Tuy vậy Nghị viện cũng có khả năng hạn chế quyền của Chủ tịch nước, để đảm bảo cho Nghị viện là cơ quan có quyền cao nhất: Chủ tịch nước được Nghị viện chọn trong số các nghị viên và phải được hai phần ba tổng số nghị viên bỏ phiếu thuận, Chủ tịch nước có thể được bầu lại (Điều 45); Những luật mà Chủ tịch nước yêu cầu thảo luận lại nếu vẫn được Nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộc Chủ tịch nước phải ban bố (Điều 31); Chủ tịch nước sẽ bị một tòa án đặc biệt của Nghị viện xét xử nếu phản bội Tổ quốc (Điều 51).
* Mối quan hệ với Chính phủ.
Chủ tịch nước là người đứng đầu Chính phủ.
Chủ tịch nước chọn Thủ tướng chính phủ trong Nghị viện; kí sắc lệnh bổ nhiệm Thứ trưởng và các nhân viên cao cấp khác thuộc cơ quan chính phủ (Điều 47, 48); mỗi sắc lệnh của Chính phủ phải có chữ kí của Chủ tịch nước, và phải có một hay nhiều Bộ trưởng thuộc lĩnh vực đó tiếp ký (Điều 53).

* Mối quan hệ với cơ quan tư pháp. Hiến pháp 1946 chưa quy định rõ về mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan tư pháp mà chỉ nói rằng các viên Thẩm phán đều do Chính phủ bổ nhiệm

Có thể thấy rằng, quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan Nhà nước khác được thiết lập theo hướng tăng cường quyền lực cho Chủ tịch nước, bảo đảm điều hoà và phối hợp các hoạt động lập pháp và hành pháp trong điều kiện các cơ quan này độc lập tương đối với nhau.

Như vậy, có thể thấy Chủ tịch nước theo quy định của Hiến pháp năm 1946 có vị trí tương tự như Tổng thống ở chế độ Cộng hoà Tổng thống hay Cộng hoà lưỡng tính tư sản. Đó là: Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà không những là người đứng đầu Nhà nước mà còn là người trực tiếp điều hành bộ máy hành pháp. Điểm d, Điều 49, Hiến pháp năm 1946 quy định: Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà có quyền chủ toạ Hội đồng Chính phủ. Nhưng lại khác với chính thể Cộng hoà Tổng thống ở chỗ: Chủ tịch nước không do nhân dân trực tiếp bầu ra hay gián tiếp bầu ra mà do Nghị viện bầu và phải là thành viên của Nghị viện.
Một điểm khác với Chính thể Cộng hoà Tổng thống nữa, đó là bên cạnh người đứng đầu bộ máy hành pháp còn có một bộ máy có tính Hiến định, bảo đảm việc thực thi quyền lực hành pháp ở Nội các, bao gồm Thủ tướng, các Bộ trưởng và Thứ trưởng. Điều 47 Hiến pháp 1946 quy định: "Chủ tịch nước Việt Nam chọn Thủ tướng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết. Nếu được Nghị viện tín nhiệm, Thủ tưóng chọn các Bộ trưởng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết toàn thể danh sách. Thứ trưởng có thể chọn ngoài Nghị viện và do Thư tướng đề cử ra hội đồng Chính phủ duyệt, nhân viên ban thường vụ Nghị viện không được tham gia vào Chính phủ".
Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà giống Tổng thống Mỹ ở chỗ được quyền phủ quyết các dự án luật đã được Nghị viện thông qua, nhưng lại khác với quyền phủ quyết của Tổng thống Mỹ ở chỗ Nghị viện chỉ cần biểu quyết lại, không cần phải biểu quyết mạnh mẽ hơn là 2/3 như ở Mỹ, thì Chủ tịch nước buộc phải công bố thành luật có hiệu lực thi hành.
Nếu như ở Chính thể Cộng hoà Tổng thống, Tổng thống phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi của mình, có thể bị Nghị viện luận tội theo thủ tục đàn hạch, thì Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà giống như nguyên thủ quốc gia của mô hình Cộng hoà đại nghị là không phải chịu trách nhiệm nào, trừ khi phản bội Tổ quốc.
Tuy Chủ tịch nước được quy định thực hiện các quyền hạn lớn hơn cả về lập pháp lẫn hành pháp, song Hiến pháp cũng quy định những hạn chế đối với Chủ tịch nước, bảo đảm tính cơ quan có quyền lực cao nhất của Nghị viện. Đó là Nghị viện bầu ra Chủ tịch nước trong số nghị sĩ, chuẩn y các hiệp ước do Chính phủ kí với nước ngoài.
Những luật mà Chủ tịch nước yêu cầu thảo luận lại nếu vẫn được Nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộc Chủ tịch nước phải ban bố. Khi Nghị viện không họp được, Ban thường vụ cùng với Chính phủ quyết định nên tuyên chiến hay đình chiến, Chủ tịch nước tuyên chiến hay đình chiến theo quyết định đó. Và đặc biệt, Nghị viện nhân dân không bị giải tán (như ở các nước tư bản).

Tóm lại chế định Chủ tịch nước - Nguyên thủ quốc gia được Hiến pháp năm 1946 xây dựng khá độc đáo. Nó vừa đảm bảo được quyền lực Nhà nước thống nhất vào cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước cao nhất của nhân dân, vừa đảm bảo tăng cường quyền hạn cho Chính phủ điều hành công việc quốc gia mạnh mẽ và hiệu quả phù hợp với yêu cầu kháng chiến kiến quốc lúc bấy giờ.

2. Chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp 1959:

Hiến pháp năm 1959 được Quốc hội Khoá I, kì họp thứ 11 thông qua trong bối cảnh lịch sử Cách mạng Việt Nam chuyển sang thời kì mới. Nhà nước đứng trước hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà.

Những quy định của Hiến pháp năm 1946 về tổ chức bộ máy Nhà nước là không còn phù hợp trong thời kì mới của Cách mạng Việt Nam. Cho nên, bản Hiến pháp mới, Hiến pháp năm 1959 đã được thông qua. Đây là bản Hiến pháp thể hiện sự vận dụng mạnh mẽ nguyên tắc tập quyền XHCN trong tổ chức bộ máy Nhà nước, tất cả quyền lực tập trung vào Quốc hội
Trong bản Hiến pháp này, chế định nguyên thủ quốc gia vẫn là Chủ tịch nước, nhưng đã có những điểm thay đổi về căn bản so với chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp năm 1946.

Hiến pháp năm 1959 ghi nhận chế định nguyên thủ quốc gia tại chương V, gồm 10 điều (từ Điều 61 đến Điều 70). Việc ghi nhận chế định Chủ tịch nước thành một chương riêng biệt trong Hiến pháp chứng tỏ Hiến pháp năm 1959 có sự đổi mới rõ rệt so với Hiến pháp năm 1946.

a) Vị trí, tính chất, trật tự hình thành:
Thiết chế Chủ tịch nước phái sinh từ Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, thống nhất các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, cùng Quốc hội thực hiện các chức năng nguyên thủ, điều phối các cơ quan cấp cao trong Bộ máy Nhà nước.

Chủ tịch nước được xác định là người đứng đầu Nhà nước nhưng không còn là người đứng đầu Chính phủ như trong Hiến pháp năm 1946. Chủ tịch nước thay mặt Nhà nước thực hiện các chức năng thuộc về đối nội, đối ngoại (Điều 61 Hiến pháp 1959). Sự phân định chức năng nguyên thủ giữa Chủ tịch nước, Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chuyển sang hướng mới. Mọi quyền hạn quan trong đều thuộc về Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chủ tịch nước chủ yếu thực hiện các công việc có tính đại diện cá nhân và tham gia nhất định vào các hoạt động của Nhà nước như lập pháp, thành lập các cơ quan Nhà nước, tặng thưởng huân chương, tuyên bố chiến tranh… nhưng đều dựa trên quy định của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Trật tự hình thành của Chủ tịch nước theo Hiến pháp được quy định trong Điều 62 Hiến pháp năm 1959: "Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bầu ra. Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà từ ba mươi lăm tuổi trở lên có quyền ứng cử Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà theo nhiệm kỳ của Quốc hội".

b) Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước

Theo quy định của Hiến pháp năm 1959, Chủ tịch nước chỉ đảm nhiệm chức năng nguyên thủ quốc gia trong lĩnh vực đối nội, đối ngoại. Quyền lực có nhiều thay đổi so với chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp 1946 với mục đích đề cao vai trò tập thể nên đã chuyển một số quyền hạn của Chủ tịch nước được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1946 sang cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội, bên cạnh đó lại quy định những quyền hạn khác của Chủ tịch nước mang tính chất thủ tục.

Chức năng của Chủ tịch nước được thể hiện rõ ở những nhiệm vụ và quyền hạn sau: (được quy định từ Điều 63 đến Điều 67 Hiến pháp năm 1959).

* Nhóm các nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến chức năng đại diện, thay mặt Nhà nước về đối nội, đối ngoại.
_ Tiếp nhận đại diện toàn quyền ngoại giao của nước ngoài cử đến; cử, triệu hồi đại diện toàn quyền ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài. (Điều 64)
_ Căn cứ vào quyết định của Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội mà phê chuẩn hiệp ước kí với nước ngoài. (Điều 64)
_ Thống lĩnh các lực lượng vũ trang toàn quốc; giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng. (Điều 65).
_ Căn cứ vào quyết định của Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội mà tuyên bố tình trạng chiến tranh; công bố lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố lệnh giới nghiêm. (Điều 63)
_ Quyết định tặng thưởng huân chương và các danh hiệu vinh dự của Nhà nước. (Điều 63)
_Công bố lệnh đại xá và lệnh đặc xá. (Điều 63)

* Nhóm các nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến việc phối hợp các thiết chế quyền lực Nhà nước trong các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp.

_ Về lĩnh vực lập pháp, Chủ tịch nước có quyền:

+ Trình dự án luật ra trước Quốc hội và dự án pháp lệnh ra trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Điều 15 và 28 Luật Tổ chức Quốc hội 1960)
+ Công bố pháp luật, pháp lệnh. Các đạo luật phải được công bố chậm nhất 15 ngày sau khi Quốc hội đã thông qua.

_ Về lĩnh vực hành pháp, Chủ tịch nước tham gia thành lập Chính phủ; bổ nhiệm, bãi miễn Thủ tướng, Phó Thủ tướng và các thành viên khác của Hội đồng Chính phủ; bổ nhiệm, bãi miễn Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng Quốc phòng. (Điều 63)

_ Về lĩnh vực tư pháp và giám sát, đối với các cơ quan như Tòa án Nhân dân tối cao, hay Viện Kiểm sát tối cao, thì theo quy định của Hiến pháp 1959, Chủ tịch nước hầu như không có nhiệm vụ và quyền hạn gì.

Để đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hiến pháp 1959 cũng quy định Chủ tịch nước, khi xét thấy cần thiết, có quyền tham dự và chủ tọa các phiên họp của Hội đồng Chính phủ (Điều 66) hoặc triệu tập và chủ tọa Hội nghị chính trị đặc biệt (Điều 67).

Như vậy so với chế định Chủ tịch nước năm 1946, Chủ tịch nước theo quy định của Hiến pháp năm 1959 có những điểm khác biệt như: Thay quyền chỉ huy các lực lượng vũ trang bằng quyền thống lĩnh các lực lượng vũ trang. Thay quyền ban bố luật bằng quyền công bố luật, không còn quyền yêu cầu Quốc hội thảo luận lại luật, không còn quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh trong cơ quan Hành chính và chuyên môn, đồng thời Chủ tịch nước không còn quyền triệu tập, chủ toạ các phiên họp của Hội đồng Chính phủ trừ trường hợp cần thiết. Bên cạnh đó Chủ tịch nước còn phải chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội. Trước đây Chủ tịch nước chủ yếu sử dụng sắc lệnh, bây giờ phải dùng luật để điều hành đất nước.

c) Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan Nhà nước khác

* Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Quốc hội:
Chủ tịch nước do Quốc hội bầu, (chọn trong công dân) với nhiệm kì theo nhiệm kì của Quốc hội (4 năm). Và khác với Hiến pháp năm 1946, Chủ tịch nước phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Điều đó cho thấy ở Hiến pháp năm 1959, vị trí của Chủ tịch nước gắn bó với Quốc hội hơn so với Hiến pháp năm 1946, và điều này phù hợp hơn với nguyên tắc tổ chức bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

*Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Chính phủ:
Chủ tịch nước vẫn có vai trò khá lớn đối với Hội đồng Chính phủ. Chủ tịch nước đề nghị Thủ tướng để Quốc hội quyết định, căn cứ vào quyết định của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ mà bổ nhiệm, bãi miễn Thủ tướng, Phó Thủ tướng và các thành viên khác của Hội đồng Chính phủ; khi cần thiết có quyền tham dự và chủ toạ các phiên họp của Hội đồng Chính phủ. Đây là những điểm kế thừa vị trí của Chủ tịch nước đối với Chính phủ ở Hiến pháp trước.

* Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Toà án, Viện kiểm sát:
Cũng như Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 chưa có quy định rõ ràng về mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Toà án, cũng như quan hệ giữa Chủ tịch nước với Viện kiểm sát.

Với việc quy định và ghi nhận chế định Chủ tịch nước, Hiến pháp 1959 thực sự là bản Hiến pháp được xây dựng theo mô hình Hiến pháp xã hội chủ nghĩa, thể hiện được bản chất Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân lao động, do dân và vì dân, quyền lực thuộc về nhân dân.[color=orange]

Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Thứ 4, 2010-03-17, 9:06 AM
 
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 8:26 AM | Số tin # 6
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
(tiếp theo)

3. Chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp năm 1980

Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân đã hoàn thành trong phạm vi cả nước. Đất nước ta chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn cả nước cùng xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc. Vì vậy, tổ chức và hoạt động Nhà nước cũng phải thay đổi cho phù hợp với tình hình, nhiệm vụ và quan điểm về “quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động” mà đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã xác định.
Cuộc tổng tuyển cử ngày 25/4/1976 cử tri cả nước đã bầu ra Quốc hội thống nhất, Quốc hội khoá VI. Và ngày 18/12/1980 tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa VI đã chính thức thông qua Hiến pháp mới đó là Hiến pháp 1980.
Chủ tịch nước, theo quy định của Hiến pháp năm 1980, nằm trong hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước ở trung ương với tên gọi là Hội đồng Nhà nước. Hiến pháp năm 1980 đã “sát nhập” hai chức năng của Ủy ban thường vụ quốc hội với chức năng của Chủ tịch nước là cá nhân trong Hiến pháp 1959 vào một cơ quan duy nhất là Hội đồng Nhà nước.

a) Vị trí, tính chất, trật tự hình thành của Hội đồng Nhà nước:

Điều 98 Hiến pháp năm 1980 quy định: "Hội đồng Nhà nước là cơ quan cao nhất, hoạt động thường xuyên của Quốc hội, là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Điều luật này đã xác định rõ vị trí, tính chất của Hội đồng Nhà nước, chính là nguyên thủ tập thể của nước ta, đồng thời là cơ quan cao nhất và hoạt động thường xuyên của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất - Quốc hội. Như vậy Hội đồng Nhà nước vừa là cơ quan thường trực của Quốc hội vừa là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Về trật tự hình thành và cơ cấu tổ chức, được quy định tại Điều 99 Hiến pháp năm 1980: "Hội đồng Nhà nước, được bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội, gồm có:

* Chủ tịch Hội đồng Nhà nước,
* Các Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước,
* Tổng thư ký Hội đồng Nhà nước,
* Các uỷ viên Hội đồng Nhà nước.

Số Phó Chủ tịch và uỷ viên Hội đồng Nhà nước do Quốc hội định.
Thành viên của Hội đồng Nhà nước không thể đồng thời là thành viên của Hội đồng bộ trưởng"
"Nhiệm kỳ của Hội đồng Nhà nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội.
Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Hội đồng Nhà nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu ra Hội đồng Nhà nước mới."

b) Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Nhà nước:

Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Nhà nước được quy định tại Điều 100 Hiến pháp năm 1980, gồm những thẩm quyền sau:

"1- Tuyên bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội.
2- Triệu tập các kỳ họp của Quốc hội.
3- Công bố luật.
4- Ra pháp lệnh.
5- Giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh.
6- Quyết định việc trưng cầu ý kiến nhân dân.
7- Giám sát công tác của Hội đồng bộ trưởng, của Toà án nhân dân tối cao và của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
8- Đình chỉ việc thi hành và sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết, nghị định, quyết định của Hội đồng bộ trưởng trái với Hiến pháp, luật và pháp lệnh.
9- Giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp, nhằm phát huy chức năng cơ quan đại biểu nhân dân của Hội đồng nhân dân.
10- Sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết không thích đáng của các Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương; giải tán các Hội đồng nói trên trong trường hợp các Hội đồng đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của nhân dân.
11- Trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định việc thành lập hoặc bãi bỏ các bộ, các Uỷ ban Nhà nước.
12- Trong thời gian Quốc hội không họp, cử và bãi miễn các Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, các bộ trưởng, các chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước.
13- Cử và bãi miễn các Phó Chánh án, thẩm phán và hội thẩm nhân dân của Toà án nhân dân tối cao; cử và bãi miễn các Phó Viện trưởng và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
14- Bổ nhiệm, bãi miễn và triệu hồi các đại diện toàn quyền ngoại giao của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài và ở các tổ chức quốc tế.
15- Tiếp nhận các đại diện toàn quyền ngoại giao của nước ngoài.
16- Phê chuẩn hoặc bãi bỏ những hiệp ước quốc tế, trừ trường hợp xét thấy cần trình Quốc hội quyết định.
17- Quy định hàm và cấp quân sự, ngoại giao và những hàm và cấp khác.
18- Quy định và quyết định việc tặng thưởng huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước.
19- Quyết định đặc xá.
20- Trong thời gian Quốc hội không họp, tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược.
21- Quyết định việc tổng động viên hoặc động viên cục bộ, việc giới nghiêm trong toàn quốc hoặc từng địa phương.
Những quyết định của Hội đồng Nhà nước nói ở các điểm 11, 12 và 20 phải trình Quốc hội phê chuẩn trong kỳ họp gần nhất của Quốc hội.
Quốc hội có thể giao cho Hội đồng Nhà nước những nhiệm vụ và quyền hạn khác, khi xét thấy cần thiết."

Chúng ta có thể nhận thấy một điều, đó là thẩm quyền của Hội đồng Nhà nước rất rộng, có thể nói là rộng nhất so với chế định nguyên thủ quốc gia trong các bản Hiến pháp trước đó (1946, 1959) và thậm chí là trong Hiến pháp 1992 sau này, bởi vì Hội đồng Nhà nước giữ hai vị trí vừa là cơ quan thường trực của Quốc hội vừa là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

c) Mối quan hệ giữa Hội đồng Nhà nước với các cơ quan Nhà nước khác

Vấn đề này thực chất được quy định rõ trong thẩm quyền của Hội đồng Nhà nước.Có thể nói thẩm quyền của Hội đồng Nhà nước rất rộng thể hiện ở mối quan hệ của Hội đồng Nhà nước không chỉ với các cơ quan Nhà nước khác ở Trung ương mà còn vươn tới tận các cơ quan Nhà nước ở cấp địa phương.

* Mối quan hệ giữa Hội đồng Nhà nước với hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước:

Mối quan hệ giữa Hội đồng Nhà nước và Quốc hội được thể hiện ở những quy định sau trong Hiến pháp năm 1980:
- Hội đồng Nhà nước là cơ quan cao nhất và hoạt động thường xuyên của Quốc hội, do Quốc hội thành lập trong số các đại biểu Quốc hội.
- Hôi đồng Nhà nước tuyên bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội, triệu tập các kỳ họp của Quốc hội.
- Hội đồng Nhà nước công bố luật của Quốc hội, giải thích Hiến pháp và luật của Quốc hội.
- Hội đồng Nhà nước giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp, nhằm phát huy chức năng cơ quan đại biểu nhân dân của Hội đồng nhân dân.
- Sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết không thích đáng của các Hội đồng Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương; giải tán các Hội đồng nói trên trong trường hợp các Hội đồng đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của nhân dân

* Mối quan hệ giữa Hội đồng Nhà nước với hệ thống cơ quan Hành chính Nhà nước:

Mối quan hệ giữa Hội đồng Nhà nước với hệ thống cơ quan Hành chính Nhà nước thể hiện:
- Hội đồng Nhà nước giám sát hoạt động của Hội đồng Bộ trưởng
- Đình chỉ việc thi hành và sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết, nghị định, quyết định của Hội đồng bộ trưởng trái với Hiến pháp, luật và pháp lệnh.
- Trong thời gian Quốc hội không họp, Hội đồng Nhà nước quyết định việc thành lập hoặc bãi bỏ các Bộ, các Uỷ ban Nhà nước, cử và bãi miễn các Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, các bộ trưởng, các chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước.

* Mối quan hệ giữa Hội đồng Nhà nước với hệ thống cơ quan xét xử, kiểm sát

Ở Hiến pháp năm 1980, mối quan hệ này chưa rõ lắm, nhưng chúng ta vẫn có thể thấy được qua những quy định:
- Hội đồng Nhà nước giám sát công tác của Toà án Nhân dân Tối cao và của Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao.
- Hội đồng Nhà nước cử và bãi miễn các Phó Chánh án, thẩm phán và hội thẩm nhân dân của Toà án nhân dân tối cao; cử và bãi miễn các Phó Viện trưởng và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Qua những quy định trên đây của Hiến pháp 1980 chúng ta thấy quyền hạn của Hội đồng Nhà nước rất lớn, được mở rộng hơn so với chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp 1959.

 
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 8:28 AM | Số tin # 7
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
(tiếp theo 3)

4. Chế định Chủ tịch nước theo HP1992 và Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10

Chế định Hội đồng Nhà nước (nguyên thủ quốc gia tập thể) ngày càng bộ lộ rõ những hạn chế trong quá trình hoạt động. Bên cạnh đó, trên thế giới diễn ra rất nhiều biến động lớn, mà tiêu biểu là hệ thống Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu tan rã. Đất nước ta bước vào thời kỉ khủng hoảng trầm trọng bởi cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp và phổ biến quan điểm giáo điều, giản đơn về CNXH. Một yêu cầu bức thiết được đặt ra, đó là phải đổi mới, đổi mới trong bộ máy Nhà nước và trong đời sống xã hội. Hiến pháp năm 1980 đã tỏ ra không còn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới của đất nước.

Ngày 15 tháng 4 năm 1992 tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa VIII đã thông qua Hiến pháp mới thay thế Hiến pháp 1980, đó là Hiến pháp năm 1992. Tổ chức bộ máy Nhà nước có nhiều thay đổi căn bản so với bộ máy Nhà nước theo quy định của Hiến pháp năm 1980, trong đó có chế định Chủ tịch nước.

Thiết chế nguyên thủ quốc gia được tổ chức khác nhau qua các Hiến pháp. Ở Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 là Chủ tịch nước, đến Hiến pháp năm 1980 là Hội đồng Nhà nước và tại Hiến pháp năm 1992, thiết chế Chủ tịch nước được xây dựng lại. Mô hình lần này vừa tiếp thu những ưu điểm của mô hình Chủ tịch nước của Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959, vừa giữ được sự gắn bó giữa Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước trong việc thực hiện các chức năng nguyên thủ quốc gia trong thể chế Hội đồng Nhà nước. Đồng thời cũng có thêm những đặc điểm mới.

a) Vị trí, tính chất và trật tự hình thành

Về vị trí, tính chất, "Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại" (Điều 101 Hiến pháp năm 1992). Như vậy, cũng như các Hiến pháp năm 1959 và năm 1980, Chủ tịch nước chỉ đóng vai trò nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước ta về đối nội và đối ngoại, chứ không đứng đầu Chính phủ như chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp năm 1946.
Về trật tự hình thành, "Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội. Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội".
Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu Chủ tịch nước mới" (Điều 102 Hiến pháp năm 1992).

Trật tự hình thành của Chủ tịch nước nói lên mối quan hệ chặt chẽ với cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất - Quốc hội.

b) Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước

Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước được Hiến pháp quy định ở Điều 103 (gồm 12 vấn đề), và ở một số điều khoản khác có liên quan (Như Điều 135, Điều 139). Có thể phân chia các nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước thành hai nhóm:

* Nhóm các nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến chức năng đại diện, thay mặt nước về đối nội và đối ngoại

Chủ tịch nước ở nước ta cũng như hầu hết các nguyên thủ quốc gia đều được quy định quyền này. Cụ thể là:
- Chủ tịch nước "Cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam; tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; tiến hành đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với người đứng đầu Nhà nước khác; quyết định phê chuẩn hoặc tham gia điều ước quốc tế, trừ trường hợp cần trình Quốc hội quyết định" (Điểm 10 Điều 103 Hiến pháp năm 1992).
Chủ tịch nước quyết định việc kí kết điều ước với danh nghĩa Nhà nước và những điều ước quốc tế có điều khoản trái với Luật hoặc Pháp lệnh. Chủ tịch nước trực tiếp đàm phán, kí kết hoặc uỷ quyền trưởng đoàn đàm phán kí kết. Chủ tịch nước phê chuẩn các điều ước thuộc quyền quyết định của Chủ tịch nước về điều ước Quốc tế có điều khoản quy định việc phê chuẩn. Việc xin phê chuẩn điều ước Quốc tế do cơ quan đề xuất việc kí kết phối hợp với Bộ ngoại giao đề nghị Chính phủ trình Chủ tịch nước, Chủ tịch nước xét và tiến hành phê chuẩn hoặc trình Quốc hội phê chuẩn.
Và ở Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001, quy định này được bổ sung thêm đó là: Chủ tịch nước trình Quốc hội phê chuẩn các điều ước Quốc tế đã trực tiếp kí.

- Chủ tịch nước "Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, cho thôi quốc tịch Việt Nam hoặc tước quốc tịch Việt Nam" (Điểm 11 Điều 103 Hiến pháp năm 1992).

- Chủ tịch nước "Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh" (Điểm 2 Điều 103 Hiến pháp năm 1992).
Ở đây có điểm khác Hiến pháp năm 1946. Điều 49 Hiến pháp năm 1946 quy định Chủ tịch nước "giữ quyền tổng chỉ huy quân đội toàn quốc..." ; từ "thống lĩnh" đã được dùng trong các Hiến pháp năm 1959 và 1980; "thống lĩnh" khác "tổng chỉ huy" ở chỗ "thống lĩnh" không phải là trực tiếp chỉ huy mà là phụ trách chung. Hội đồng Quốc phòng giúp Chủ tịch nước trong việc thống lĩnh. Chủ tịch nước thành lập Hội đồng Quốc phòng và trình Quốc hội phê chuẩn.

- Chủ tịch nước "Quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp cao trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm cấp Nhà nước khác; quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước" (Điểm 9 Điều 103 Hiến pháp năm 1992).

- Chủ tịch nước "Căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương" (Điểm 6 Điều 103 Hiến pháp năm 1992).
Trong Điều 91, Điểm 10 của Hiến pháp năm 1992 có quy định: Uỷ ban thường vụ Quốc hội "Quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc từng địa phương". Vậy hai điểm trên cần được hiểu là: Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định tổng động viên... quyết định ban bố tình trạng khẩn cấp... Chủ tịch nước căn cứ vào Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội mà ra lệnh tổng động viên, ra lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp.
Trong Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001, điểm này được bổ sung thêm: Trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp được, Chủ tịch nước ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương.

- Chủ tịch nước "Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, công bố quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, công bố quyết định đại xá" (Điểm 5 Điều 103 Hiến pháp năm 1992).

- Chủ tịch nước "Quyết định đặc xá" (Điểm 12 Điều 102 Hiến pháp năm 1992).
Ở đây cần làm rõ hai chế định "đặc xá" và "đại xá". Đại xá là việc tha miễn truy tố đối với một số loại tội nhân một dịp long trọng nào đó. Đại xá do Quốc hội quyết định, Chủ tịch nước công bố. Còn đặc xá là việc Chủ tịch nước tha tù hoặc miễn hình phạt tù còn lại đối với những phạm nhân có hoàn cảnh đặc biệt như: ốm đau nặng, già cả, có công lao hoặc có hoàn cảnh gia đình quá khó khăn... Việc đặc xá này thường được thực hiện nhân dịp lễ tết và hay kết hợp với việc tha tù trước thời hạn và giảm án.

* Nhóm các nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến việc phối hợp các thiết chế quyền lực Nhà nước trong các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp:

Trong lĩnh vực lập pháp, Chủ tịch nước có quyền:
- Trình dự án luật ra trước Quốc hội, kiến nghị về luật thông qua việc kiến nghị ban hành luật mới hoặc sửa đổi, bổ sung luật hiện hành (Điều 62 luật tổ chức Quốc hội).

- "Công bố Hiến pháp, luật và pháp lệnh" (Điểm 1 Điều 103). Việc công bố các văn bản này là một phần của quá trình lập pháp. Đối với Hiến pháp, luật do Quốc hội thông qua thì Chủ tịch nước công bố để thực hiện. Thời hạn công bố chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày thông qua (Điều 50 Luật ban hành văn bả quy phạm pháp luật, Điều 91 Luật tổ chức Quốc hội sửa đổi năm 2001). Văn bản có hiệu lực kể từ khi công bố hoặc theo quy định tại văn bản. Đối với pháp lệnh do Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua thì Chủ tịch nước công bố trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày được thông qua. "Chủ tịch nước có quyền đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn 10 ngày. Nếu pháp lệnh đó vẫn được Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kì họp gần nhất" (Điểm 7 Điều 103 Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001). Trong trường hợp này thời hạn công bố chậm nhất là mười ngày kể từ ngày được Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại thông qua hoặc từ khi Quốc hội quyết định (Điều 49 và Điều 52 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật).
Việc quy định cho Chủ tịch nước quyền đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại Pháp lệnh đã được thông qua được nhiều người coi giống như quyền phủ quyết của nguyên thủ quốc gia một số nước. Tuy nhiên, về bản chất không hẳn là như vậy. Quyền phủ quyết thường nảy sinh trong cơ chế Nhà nước có sự kiềm chế và đối trọng quyền lực (cơ chế phân quyền), còn ở nước ta giữa Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước là thống nhất không có sự đối trọng nên không có vấn đề phủ quyết lẫn nhau ở đây. Thực chất vấn đề là ở chỗ, do Hiến pháp quy định cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội được ban hành pháp lệnh - một loại văn bản có tính chất luật - lẽ ra phải do Quốc hội ban hành dưới hình thức luật nên cần phải thận trọng. Sự tham gia của Chủ tịch nước nhằm phối hợp giải quyết các vấn đề quan trọng đó một cách chính xác nhất.

Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì Chủ tịch nước còn công bố Nghị quyết của Quốc hội tương tự như đối với Luật, công bố hoặc đề nghị xem xét lại Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội tương tự như đối với Pháp lệnh.

Ở đây có một điểm đáng chú ý nữa: Hiến pháp năm 1946 dùng từ "ban bố", các Hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992 dùng từ "công bố". "Ban bố" thường được hiểu là điều kiện bắt buộc phải có để một văn bản đã được thông qua có hiệu lực pháp lí. Còn "công bố" chỉ có ý nghĩa là để nhân dân biết, còn văn bản đó có hiệu lực pháp luật từ ngày được thông qua nếu văn bản không có quy định khác, như đã phân tích ở trên.

Trong lĩnh vực hành pháp, Chủ tịch nước tham gia thành lập Chính phủ, giám sát hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ (căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội) (Điểm 4 Điều 103 Hiến pháp năm 1992); Ban bố tình trạng khẩn cấp khi Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp được; trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định tạm đình chỉ công tác của Phó Thủ tưóng, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ theo đề nghị của Thủ tướng (Điều 20 Luật tổ chức Chính phủ năm 2001). Trước đây, Hiến pháp quy định cho Chủ tịch nước thẩm quyền lớn đối với hai vấn đề (thuộc lĩnh vực hành pháp) được Hiến pháp quy định cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội giải quyết trong thời gian Quốc hội không họp là: Phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ và quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược thì Chủ tịch nước có quyền đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại các Nghị quyết về vấn đề đó (trong thời hạn 10 ngày); nếu Nghị quyết đó vẫn được Uỷ ban thường vụ Quôc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kì họp gần nhất (Điểm 7 Điều 103 Hiến pháp 1992). Nay Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 (Quốc hội thông qua tháng 12/2001) đã bỏ quyền của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng và các thành viên khác của Chính phủ cũng như quyền quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược (Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ thực hiện quyền này khi Quốc hội không thể họp được và sau đó phải đưa ra Quốc hội xem xét, quyết định tại kì họp gần nhất), do đó Chủ tịch nước không còn thực hiện các quyền này nữa.

Trong lĩnh vực tư pháp và giám sát, Chủ tịch nước giới thiệu để Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điểm 3 Điều 103 Hiến pháp năm 1992); bổ nhiệm Phó Chánh án và Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán Toà án quân sự Trung ương, Phó viện trưởng và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trước đây, theo quy định của Luật tổ chức Toà án nhân dân cũ, Chủ tịch nước còn bổ nhiệm của Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán Toà án các cấp. Nay Luật tổ chức Toà án nhân dân 2002 đã bãi bỏ điểm này, giao về cho Chánh án Toà án nhân dân tối cao thực hiện. Chủ tịch nước xem xét và quyết định việc ân xá (giảm án tử hình). Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước.

 
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 8:28 AM | Số tin # 8
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
(tiếp theo 4)

Để đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình Hiến pháp quy định Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Khi xét thấy cần thiết có quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ (Điều 105 Hiến pháp 1992).

Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình (Điều 106 Hiến pháp năm 1992).

c) Quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan Nhà nước khác
Về tổ chức bộ máy Nhà nước trong Hiến pháp 1992, quan điểm cơ bản đã được khẳng định là: toàn bộ quyền lực Nhà nước tập trung thống nhất vào Quốc hội, và có sự phân công phân nhiệm giữa Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để mỗi cơ quan thi hành có hiệu lực chức năng, quyền hạn của mình với sự phối hợp chặt chẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp của quyền lực Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Cùng với quy định "Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước"(Điều 101 Hiến pháp năm 1992), các quy định khác về mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thể hiện rõ quan điểm đó.

* Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội:

· Về mối quan hệ với Quốc hội, Hiến pháp năm 1992 (có sửa đổi, bổ sung) và Luật tổ chức Quốc hội hiện hành có những quy định cơ bản sau:
- Chủ tịch nước do Quốc hội bầu (trong số đại biểu Quốc hội), miễn nhiệm và bãi nhiệm, với nhiệm kì theo nhiệm kì của Quốc hội.
- Quốc hội quy định tổ chức và hoạt động của Chủ tịch nước.
- Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.
- Chủ tịch nước trình dự án luật ra trước Quốc hội, kiến nghị về luật thông qua việc kiến nghị ban hành luật mới hoặc sửa đổi, bổ sung luật hiện hành.
- Quốc hội có quyền bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước trái với Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội.
- Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch nước phải trả lời trước Quốc hội tại kì họp, trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kì họp sau của Quốc hội hoặc cho trả lời bằng văn bản.

· Trong mối quan hệ với Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hiến pháp đã quy định:
- Chủ tịch nước có quyền tham dự phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Quy định này nhằm mục đích tạo điều kiện để Chủ tịch nước theo được sát ý kiến của tập thể Uỷ ban thường vụ Quốc hội khi thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, đồng thời cũng để Chủ tịch nước có thể đóng góp kịp thời ý kiến của mình.
- Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội phải được công bố chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày được thông qua. Tuy nhiên, Chủ tịch nước có quyền "Đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về các vấn đề quy định tại điểm 8 và điểm 9 Điều 91 trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Pháp lệnh hoặc Nghị quyết được thông qua; nếu Pháp lệnh, Nghị quyết đó vẫn được Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kì họp gần nhất" (Điểm 7 Điều 103 Hiến pháp năm 1992), về sau được sửa đổi, bổ sung tại Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2001 thì Chủ tịch nước chỉ có quyền đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại Pháp lệnh vì thẩm quyền của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về các vấn đề quy định tại Điểm 8 và Điềm 9 Điều 91 đã bị huỷ bỏ.
Đây là một quyền hạn mới được bổ sung mà Hội đồng Nhà nước không có. Quyền này khác quyền phủ quyết của Tổng thống ở một số nước.

Những quy định trên cho thấy tính phái sinh và gắn bó giữa Chủ tịch nước với Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Mặc dù Hiến pháp 1992 tách Chủ tịch nước thành thiết chế riêng song vẫn nghiêng về phía Quốc hội, gắn bó chặt chẽ với Quốc hội chứ không gắn với Chính phủ như ở Hiến pháp năm 1946 và 1959 hoặc thuộc về hành pháp như nguyên thủ quốc gia ở các nước tư bản.

* Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Chính phủ:

Mối quan hệ này được Hiến pháp năm 1992 (có sửa đổi, bổ sung vào năm 2001) và Luật tổ chức Chính phủ hiện hành quy định như sau:

- Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Thủ tướng Chính phủ.
- Chủ tịch nước căn cứ Nghị quyết của Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ (Điểm 4 Điều 103 Hiến pháp năm 1992), quy định này được sửa lại tại Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001, theo đó thì Chủ tịch nước chỉ phải căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội để thực hiện những vấn đề này vì thẩm quyền của Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong lĩnh vực này đã bị huỷ bỏ.
- Trong thời gian Quốc hội không họp, Chủ tịch nước quyết định tạm đình chỉ công tác của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ theo đề nghị của Thủ tướng.
- Chính phủ mời Chủ tịch nước tham dự phiên họp của Chính phủ, trình Chủ tịch nước quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền Chủ tịch nước.
- Thủ tướng Chính phủ đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện những quyết định của Chủ tịch nước. Các báo cáo công tác của Chính phủ truớc Chủ tịch nước phải được Chính phủ thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số.
Việc xác định mối quan hệ như vậy thể hiện sự tăng cường vai trò của Chủ tịch nước đối với bộ máy hành pháp và bảo đảm sự phối hợp gắn bó giữa Quốc hội, Chủ tịch nước và Chính phủ.

* Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Toà án nhân dân tối cao:

- Với Hiến pháp năm 1992, chế độ bầu cử Thẩm phán đã được thay bằng chế độ Thẩm phán bổ nhiệm, chỉ trừ đối với chức vụ Chánh án Toà án nhân dân tối cao do Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm. Các chức vụ khác từ Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao đến Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện, từ Chánh án Toà án quân sự Trung ương đến Thẩm phán Toà án quân sự khu vực đều do Chủ tịch nước bổ nhiệm. Nhưng hiện nay, theo Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 thì việc bổ nhiệm Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán Toà án các cấp được giao về cho Chánh án Toà án nhân dân tối cao thực hiện. Chủ tịch nước chỉ còn bổ nhiệm Phó Chánh án và Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán Toà án quân sự Trung ương.
- Trong thời gian Quốc hội không họp, Chánh án Toà án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước.
- Chánh án Toà án nhân dân tối cao trình xin Chủ tịch nước ý kiến của mình về những trường hợp người bị kết án tử hình xin ân giảm.

* Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Viện kiểm sát nhân dân tối cao:

Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân hiện hành quy định về vấn đề này như sau:
- Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Viện trưởng, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Trong thời gian Quốc hội không họp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước.
- Báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải được Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao thảo luận tập thể và quyết định theo đa số. Nếu Viện trưởng không nhất trí với ý kiến đa số thành viên Uỷ ban kiểm sát thì phải thực hiện theo quy định của đa số, nhưng có quyền báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước.
- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình xin Chủ tịch nước ý kiến của mình về những trường hợp người bị kết án tử hình xin ân giảm.

 
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 8:29 AM | Số tin # 9
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
(tiếp theo 5)

III. Đánh giá

Chế định chủ tịch nước là một trong những chế định quan trọng trong tổ chức bộ máy nhà nước ta. Trong các bản hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 qua từng giai đoạn phát triển chế định chủ tịch nước lại có nhiều sự khác nhau phù hợp với từng điều kiện của tổ chức bộ máy nhà nước ở mỗi giai đoạn đó. Tuy nhiên, quá trình xây dựng và phát triển của tổ chức nhà nước ta là một quá trình thống nhất, nhất quán cho nên sự đổi mới, phát triển đều dựa trên những nguyên tắc, ưu điểm của thiết chế trước đó. Đó là sự kế thừa và phát triển của chế định chủ tịch nước qua các bản hiến pháp
Chúng ta có thể đưa ra một số đánh giá nhận xét như sau:

Thứ nhất, trong hiến pháp 1946 chế định chủ tịch nước được xây dựng một cách độc đáo, vừa đảm bảo quyền lực nhà nước thống nhất và cơ quan đại diện quyền lực nhà nước cao nhất của nhân dân, vừa tăng cường hiệu quả hoạt động cho chính phủ, phù hợp với yêu cầu kháng chiến kiến quốc lúc bấy giờ.

Thứ hai, trong Hiến pháp 1959 chủ tịch nước lúc này là khâu phối hợp giữa quốc hội và chính phủ, đây chính là sự phát triển trong chế định chủ tịch nước theo hiến pháp 1959 so với hiến pháp 1946, sự phát triển này là phù hợp với việc bộ máy nhà nước ta giai đoạn đó đã chuyển sang chế độ Xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, chủ tịch nước vẫn còn nghiêng nhiều về chính phủ, đây chính là điểm kế thừa vị trí của chủ tịch nước đối với chính phủ của Hiến pháp trước.

Thứ ba, trong Hiến pháp 1980 chế định chủ tịch nước đã được xoá bỏ và thay vào đó là chế định chủ tịch tập thể. Chế định hội đồng nhà nước đã giúp các quyết định đưa ra được chắc chắn hơn, tránh ngẫu nhiên, bộ máy bớt được một số khâu và đơn giản các thủ tục làm việc…Việc xây dựng chế định hội đồng nhà nước còn thể hiện nguyên tắc tập quyền đã được vận dụng triệt để, điều đó thể hiện bộ máy nhà nước ta đã hoàn thành quá trình xây dựng bộ máy nhà nước theo mô hình chủ nghĩa xã hội thuần tuý. Tuy nhiên sự thay đổi này cũng mang lại nhiều hạn chế: các quyết định đưa ra chậm chạp, không phân định được hoạt động tập thể của cơ quan thường trực và chức trách cá nhân trong việc thực hiện các hoạt động đại diện nhà nước.

Thứ tư, hiến pháp 1992 ra đời đã kế thừa được những ưu điểm của Hiến pháp 1946 và 1959 vừa kế thừa được những mặt tích cực mà hiến pháp 1980 có được, đó là sự gắn bó giữa Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội với chủ tịch nước trong thực hiện chức năng nguyên thủ Quốc gia. Hiến pháp 1992 còn là sự phát triển, thể hiện sự đổi mới mang tính tiến bộ. Cụ thể: Hiến pháp 1992 đã tách chủ tịch nước thành một thiết chế riêng chứ không phải là một cơ cấu nằm trong Quốc hội như hiến pháp 1980 hoặc gắn với hành pháp như như hiến pháp 1946, 1959 và một số nguyên thủ quốc gia của đa số các nước tư bản. Ngoài ra chủ tịch nước còn bổ sung thêm một số quyền hạn mới như: quyền đề nghị xem xét lại một số pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về các vấn đề quy định tại các điểm 8, 9 của điều 91 Hiến pháp 1992…Sự đổi mới đó quán triệt nguyên tắc: Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền hành pháp, tư pháp, lập pháp.

Từ sự phân tích trên ta có thể nhận thấy chế định Chủ tịch nước ta hiện nay nghiêng về cơ quan lập pháp hơn hành pháp, điều này thể hiện ở chỗ: Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội, có nhiệm kỳ theo nhiệm kỳ của Quốc hội, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và chính thức hóa hoạt động của Quốc hội… Nhiều thẩm quyền mang tính hành pháp được giao cho ngành lập pháp còn chủ tịch nước chỉ như là người chính thức hóa, ví dụ như: Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội công bố quyết định tình trạng chiến tranh; căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội ra lệnh tổng động viên cục bộ, công bố tình trạng khẩn cấp…Như vậy chủ tịch nước theo Hiến pháp hiện hành – Hiến pháp năm 1992 là một thiết chế riêng song vẫn nghiêng về phía Quốc hội, gắn bó chặt chẽ với Quốc hội chứ không gắn với Chính phủ như ở Hiến pháp 1946 và 1959 hoặc thuộc về hành pháp như nguyên thủ quốc gia ở đa số các nước tư bản cũng không chỉ mang tính hình thức như ở các nước theo chính thể quân chủ

Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Thứ 4, 2010-03-17, 9:07 AM
 
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 8:31 AM | Số tin # 10
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
(tiếp theo 6)

IV. Một số suy nghĩ, kiến nghị đối với chế định Chủ tịch nước trong giai đoạn hiện nay

Trải qua các bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992 và 1992 sửa đổi), chế định Chủ tịch nước ngày càng được hoàn thiện với vị trí, vai trò và các chức năng phù hơp với hoàn cảnh của đấy nước. Cho đến nay, vị trí, vai trò và thẩm quyền của Chủ tịch nước trong bộ máy Nhà nước của nước ta theo Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) về cơ bản là phù hợp. Để hoàn thiện vị trí của Chủ tịch nước trong cơ chế quyền lực Nhà nước đang tiếp tục đổi mới hiện nay, cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ hơn thêm một số điểm:

* Chủ tịch nước được xác định là người đứng đầu Nhà nước, song về chức năng, nhiệm vụ không hoàn toàn giống như nguyên thủ quốc gia ở các nước khác. Do đó, cần nghiên cứu tăng cường vị trí của Chủ tịch nước như: giao cho Chủ tịch nước quyền đề nghị Quốc hội xem xét lại luật (nhằm bảo đảm sự cẩn trọng khi thông qua luật); quyền quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược; quyết định tổng động viên (những quyền này hiện đang thuộc về Uỷ ban thường vụ Quốc hội, nếu chuyển cho Chủ tịch nước sẽ phù hợp hơn với vị trí của nguyên thủ quốc gia). Đặc biệt, cần mở rộng phạm vi tiến hành đàm phán, kí kết điều ước Quốc tế và các thoả thuận quốc tế nhân danh Nhà nước Việt Nam không chỉ "với người đứng đầu Nhà nước khác" như Hiến pháp hiện hành quy định để tạo thuận lợi cho việc thực hiện chính sách đối ngoại mềm dẻo của Nhà nước theo hướng đổi mới, mở cửa và hội nhập với thế giới; tăng cường quyền của Chủ tịch nước trong việc phê chuẩn các điều ước Quốc tế. Chỉ những điều ước Quốc tế có quan hệ trực tiếp tới chủ quyền, an ninh quốc gia, lãnh thổ, vị thế, chính sách của Nhà nước khi tham gia các tổ chức Quốc tế quan trọng... mới cần phải để Quốc hội phê chuẩn.

* Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Chủ tịch nước công bố Nghị quyết của Quốc hội tương tự như đối với Luật, công bố hoặc đề nghị xem xét lại Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội tương tự như đối với Pháp lệnh. Tuy nhiên, quyền này của Chủ tịch nước phải được quy định ở tầm Hiến pháp.

* Với việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (năm 2001), Uỷ ban thường vụ Quốc hội không còn thẩm quyền đối với các điểm 8 và 9 Điều 91 Hiến pháp 1992, nên Chủ tịch nước không còn tham dự vào vấn đề này. Đồng thời Hiến pháp quy định cho Chủ tịch nước có thêm một thẩm quyền mới: quyết định tạm đình chỉ công tác của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ theo đề nghị của Thủ tướng. Việc bỏ quyền thay đổi các thành viên khác của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đối với Chính phủ trong thời gian giữa 2 kì họp (Điểm 8 Điều 91 Hiến pháp 1992) đã cản trở điều đó. Tương tự việc không quy định thẩm quyền của Uỷ ban thường vụ Quốc hội (có sự liên quan đến Chủ tịch nước) quyết định tình trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược (Điểm 9 Điều 91 Hiến pháp 1992) cũng như Chủ tịch nước chỉ được ban bố tình trạng khẩn cấp khi Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp là chưa hợp lí, khó đảm bảo tính kịp thời của việc giải quyết vấn đề có tầm quan trọng quốc gia. Những thẩm quyền này nên giao cho Chủ tịch nước sẽ vừa đảm bảo kịp thời, vừa có tính long trọng là hợp lí hơn cả.

* Điều 105 Hiến pháp quy định cho Chủ tịch nước quyền tham dự các phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và khi xét thấy cần thiết thì có quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ. Đối với phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì Chủ tịch nước tham dự để nắm bắt và có ý kiến về các vấn đề có liên quan (nhấtlà khi Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng được Quốc hội trao hay khi thông qua các Nghị quyết, Pháp lệnh). Điều này là phù hợp và cần thiết, thể hiện sự gắn bó giữa Chủ tịch nước với Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Riêng đối với phiên họp của Chính phủ mà Chủ tịch nước chỉ "tham dự", thiết nghĩ chưa thích hợp lắm. Trong cơ cấu quyền lực Nhà nước nói chung, nguyên thủ quốc gia thực tế cũng như hình thức, đều được coi là người đứng đầu hành pháp. Điều đó thể hiện ở quyền của nguyên thủ quốc gia bổ nhiệm Thủ tướng, quyết định chấp nhận hoặc giải tán Chính phủ. Bình thường, mọi việc của Chính phủ đều do Thủ tướng điều hành, nhưng khi có vấn đề phát sinh cần có sự hiện diện của nguyên thủ quốc gia thì nguyên thủ quốc gia sẽ nắm quyền điều hành đối với Chính phủ. Đối với Chính phủ nước ta, mặc dù có những nét đặc thù, nhưng cơ bản vẫn mang những đặc điểm chung đó thể hiện qua việc Chủ tịch nước giới thiệu Thủ tướng để Quốc hội bầu, căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ... Vậy, cần thể hiện nội dung này theo hướng nguyên thủ quốc gia chỉ tham dự phiên họp của Chính phủ trong các trường hợp thật cần thiết và khi đó Chủ tịch nước sẽ là người chủ toạ phiên họp.

Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Thứ 4, 2010-03-17, 9:08 AM
 
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 8:34 AM | Số tin # 11
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
(tiếp theo 7)

Lời kết

Qua việc nghiên cứu chế định nguyên thủ quốc gia qua 4 bản Hiến pháp, chúng ta đều nhận thấy dù Chủ tịch nước là một cá nhân hay tập thể đều thể hiện vị trí chính trị pháp lý là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt Nhà nước về đối nội đối ngoại. Cũng qua 4 bản Hiến pháp, chế định nguyên thủ quốc gia được xây dựng qua thời kỳ có những bước phát triển mới, đặc biệt là phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của từng giai đoạn cách mạng, bảo đảm cho việc thực hiện đường lối lãnh đạo của Đảng và nhà nước. Chế định nguyên thủ quốc gia trong hiến pháp nước ta qua các giai đoạn có những đặc điểm, tính chất và vị trí không giống bất kỳ một nguyên thủ quốc gia nào. Có sự đặc thù như vậy vì ở nước ta do cơ chế tổ chức quyền lực theo nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

Lịch sử lập hiến Việt Nam đã để lại nhiều bài học quý báu trong việc tổ chức bộ máy Nhà nước, trong đó có chế định Chủ tịch nước (nguyên thủ quốc gia). Trong Hiến pháp 1992 nói riêng và pháp luật hiện hành nói chung, chúng ta đã thiết lập lại thể chế Chủ tịch nước (nguyên thủ cá nhân như trong Hiến pháp năm 1946 và 1959) trong bối cảnh đất nước đang thực hiện những đổi mới sâu sắc, toàn diện, trong tình hình thế giới có nhiều mặt khác trước và đang biến động từng ngày. Hiến pháp 1992 nói riêng và pháp luật hiện hành nói chung cũng chỉ mới quy định rất khái quát nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước và mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan Nhà nước khác. Vấn đề đặt ra là sự nghiên cứu toàn diện đi từng bước vững chắc, vừa làm vừa rút kinh nghiệm để cụ thể hoá dần dần các quy định của Hiến pháp và pháp luật, làm cho thể chế Chủ tịch nước ngày càng phát huy được vai trò, vị trí, chức năng quan trọng của mình trong bộ máy Nhà nước và trong đời sống xã hội.

( nguồn Sinhvienluat.vn)

Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Thứ 4, 2010-03-17, 9:09 AM
 
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 8:39 AM | Số tin # 12
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
Quyền cơ bản của con người qua các bản Hiến pháp
A. Quyền cơ bản của con người:

Trước hết, chúng ta cần điểm qua về thuật ngữ liên quan “Quyền cơ bản của con người”

Theo các nhà khai sáng cuối thế kỉ 17 đầu thế kỉ 18 thì đó là những quyền cơ bản mà tạo hóa đã ban cho họ và không ai có thể xâm phạm được. Các quyền này không thể bị phá hủy khi một xã hội dân sự được thiết lập, và không một xã hội hay một chính phủ nào có thể xóa bỏ hay “chuyển nhượng” những quyền này.

Các quyền này bao gồm: Quyền tự do ngôn luận, thể hiện và tự do báo chí; tự do tôn giáo; tự do hội họp lập hội; quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền được xét xử công bằng và theo đúng trình tự tố tụng.

Ngày mùng 10 tháng 12 năm 1948, Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc đã long trọng tuyên bố bản Tuyên ngôn quyền con người... Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, cộng đồng thế giới đã đảm nhận trách nhiệm quảng bá và bênh vực quyền con người như một nghĩa vụ trường kỳ.

Trong 21 khoản đầu tiên của Tuyên ngôn, chúng ta có thể kể ra những quyền cơ bản sau đây: Quyền được sống, được tự do và được đảm bảo an ninh cá nhân, quyền không bị bắt làm nô lệ, quyền không bị tra tấn hay chịu những hình phạt độc ác, vô nhân đạo hay chà đạp phẩm giá con người, quyền được bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng, quyền được khiếu nại đến sự xét xử của những tòa án quốc gia có thẩm quyền, quyền không bị bắt giữ, giam cầm hay dày ải trái phép, quyền không bị độc đoán vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, quyền được đi lại, quyền được cư trú, quyền được một quốc tịch, quyền được kết hôn và lập gia đình, quyền được sở hữu, quyền được tự do tư tưởng, lương tâm, tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do phát biểu, tự do hội họp.

Việt Nam chúng ta là một nước có thể chế chính trị theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vậy chúng ta có đảm bảo được các quyền cơ bản của con người cho nhân dân hay không? Để đi sâu vào vấn đề này, chúng ta sẽ đi vào phân tích những nội dung cơ bản bốn bản Hiến pháp: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 mà nội dung liên quan đến những vấn đề này.

B. Quyền cơ bản của con người qua các Hiến pháp Việt nam:

I. Hiến pháp năm 1946:
Những quyền cơ bản của con người được đề cập đến trong mục B của chương 2 “nghĩa vụ và quyền lợi của công dân”. Cụ thể:

- Điều 6: Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: Chính trị, kinh tế, văn hóa.

- Điều7: Tất cả mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình.

- Điều 9: Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện.

- Điều 10: Công dân Việt Nam có quyền:

+ Tự do ngôn luận

+ Tự do xuất bản

+ Tự do tổ chức và hội họp

+ Tự do tín ngưỡng.

+ Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.

Như vậy, với Hiến pháp năm 1946, lần đầu tiên trong lịch sử, địa vị pháp lí của công dân được xác lập trên cơ sở dân tộc giành được độc lập. Có thể nói rằng, mặc dù ra đời trong hoàn cảnh khó khăn, nhưng Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận những giá trị quyền con người mà nhân dân ta đã giành được. Đó là một nội dung cốt lõi của Hiến pháp dân chủ. Tuy đây là bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta nhưng nó đã ghi nhận và đảm bảo những quyền cơ bản của con người. Đó là sự bình đẳng về quyền lợi trên mọi phương diện. Công dân việt nam không phân biệt giới tính, nghề nghiệp, tôn giáo, dân tộc đều bình đẳng như nhau.

II. Hiến pháp năm 1959:
Quyền cơ bản của con người được quy định tại Chương 3: “Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân”.

- Điều 22: Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều bình đẳng trước pháp luật.

Đây là minh chứng rõ ràng nhất thể hiện Hiến pháp năm 1959 đảm bảo quyền bình đẳng của con người.

- Điều 23: Công dân nước Việt Ndân chủ cộng hòa, không phân biệt dân tộc, nòi giống, nam nữ, thành phần xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng, tình trạng tài sản, trình độ văn hóa, nghề nghiệp,thời hạn cư trú, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, từ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử, trừ những người bị mất trí hoặc những người bị tòa án và pháp luật tước quyền ứng cử và bầu cử.

Công dân đang ở trong quân đội có quyền bầu cử và ứng cử.

- Điều 22 của bộ luật đã công nhận quyền bầu cử và quyền ứng cử là quyền thiêng liêng và cơ bản của công dân.

- Điều 24 của Hiến pháp ghi nhận quyền bình đẳng nam nữ. Phụ nữ được pháp luật bảo hộ và đươc hưởng những quyền như nam giới.

- Điều 25 của Hiến pháp công nhận quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình của công dân.

- Điều 26 ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng của công dân.

- Điều 27, 28 ghi nhận quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhà ở và thư tín.

- Điều 29 đảm bảo quyền khiếu nại và tố cáo của công dân

- Điều 30 quy định công dân nước việt nam dân chủ công hòa có quyền làm việc.

- Điều 33 ghi nhận công dân có quyền học tập.

Như vậy, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp đầu tiên của thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội quy định cụ thể,chi tiết hơn về quyền con người. Tiếp tục kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Hiến pháp vì quyền con người, Hiến pháp năm 1959 đã bổ sung những quy định mới về quyền con người của công dân như: Quyền khiếu nại tố cáo đối với bất cứ cơ quan nhà nước nào (Điều 29), quyền làm việc (Điều 30), quyền nghỉ ngơi (Điều 31), quyền học tập (Điều 33), quyền tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật và tiến hành hoạt động văn hoá khác (Điều 34).

III. Hiến pháp 1980:
Quyền cơ bản của con người được quy định trong Chương 5 “quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”.

Kế tục và phát triển hiến pháp năm 1946 và 1959, Hiến pháp năm 1980 một mặt ghi nhận lại quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã quy định trong hai Hiến pháp trước như: Quyền bình đẳng trước pháp luật của công dân (Điều 55), quyền bầu cử và ứng cử (Điều 57), quyền lao động (Điều 58), quyền nghỉ ngơi (Điều 59), quyền tự do tín ngưỡng (Điều 68), quyền khiếu nại và tố cáo (Điều 73), quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 69)...Mặt khác quy định thêm về một số quyền của công dân phù hợp với tình hình mới. Cụ thể:

- Điều 56: công dân có quyền tham gia quản lí công việc của nhà nước và xã hội.

- Điều 61: công dân có quyền được bảo vệ sức khỏe. Nhà nước thực hiện chế độ khám và chữa bệnh không phải trả tiền.

- Điều 63: phụ nữ có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương nếu là công nhân, viên chức, hoặc hưởng phụ cấp sinh đẻ nếu là xã viên hợp tác xã.

Tuy nhiên, một số quyền mới quy định trong Hiến pháp lại không phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước. Điển hình là việc quy định “chế độ học không phải trả tiền” (Điều 60) không phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của nước ta. Tương tự, viêc quy định “chế độ khám bệnh và chữa bệnh không mất tiền” (Điều 61) mang tính chủ quan duy ý chí, không phù hợp với điều kiện kinh tế nước nhà, gây nhiều hậu quả tích cực trong xã hội...Nhưng nhìn nhận một cách khách quan vấn đề thì những quy định mới này mang những nét tiến bộ vượt trội thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến mọi mặt cuộc sống của nhân dân. Đây chính là mô hình quyền con người trong xã hội tương lai: Xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Cũng cần phải thấy rằng có một số quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 1946 nhưng về sau do hoàn cảnh lịch sử mà chúng ta phải hạn chế, không quy định trong Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980. Ví dụ: Quyền tự do xuất bản, quyền tự do đi ra nước ngoài (Điều 10 Hiến pháp năm 1946), quyền tư hữu tài sản (Điều 12 Hiến pháp năm 1946).

IV. Hiến pháp năm 1992:
Đây là Hiến pháp quy định đầy đủ và phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước về quyền con người.

1. Các quyền về chính trị:

- Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật (Điều 52).

- Quyền tham gia quản lí và xã hội (Điều 53).

- Quyền bầu cử và ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước (Điều 54).

- Quyền khiếu nại và tố cáo của công dân (Điều 74).

2. Các quyền về kinh tế văn hóa xã hội:

- Quyền lao động của công dân (Điều 55).

- Quyền được ngơi của công dân (Điều 56).

- Quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật (Điều 57).

- Quyền được bảo vệ sức khỏe (Điều 61).

- Quyền xây dựng nhà ở (Điều 62).

- Quyền bình đẳng của phụ nữ so với nam giới (điều 63).

- Quyền được bảo hộ về hôn nhân và gia đình

3. Các quyền về tự do dân chủ:

- Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật (Điều 69).

- Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo (Điều 70).

- Quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 71).

- Quyền bất khả xâm phạm về nhà ở, quyền bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín (Điều 73).

- Quyền tự do đi lại và cư trú (Điều 68).

Như vậy, Hiến pháp năm 1992 đã giữ lại cơ bản những quyền của công dân gắn liền với quyền con người của các bản Hiến pháp trước. Ví dụ: Quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền được bầu cử và ứng cử, quyền lao động của công dân, quyền tự do tín ngưỡng…

Trên cơ sở đó Hiến pháp nay đã bổ sung, sửa đổi những quy định để phù hợp và đầy đủ hơn. Cụ thể như:

- Nghiêm cấm viêc trả thù người khiếu nại, tố cáo (Điều 74).

- Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo càng nhiều việc làm cho người lao động (Điều 55).

- Nhà nước quy định bậc tiểu học không phải đóng tiền học phí (Điều 59).

- Nhà nước quy định chế độ viện phí, chế độ miễn giảm viện phí (Điều 61).

- Nhà nước khuyến khích công dân xây dựng nhà ở theo quy hoạch và theo pháp luật của nhà nước ( Điều 62).

Ngoài ra, Hiến pháp này còn có thêm quy định mới đó là: Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật (điều 57).

Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến nước ta, Hiến pháp năm 1992 đã giành một điều nói về quyền con người với nội dung khẳng định: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật" (Điều 50). Việc ghi nhận một điều nói về quyền con người với tư cách là một quy định chung trước khi ghi nhận các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Hiến pháp năm 1992 thể hiện một bước tiến mới về tư duy lý luận và sự kế thừa một cách sâu sắc giá trị tiến bộ của tư duy chính trị - pháp lý của nhân loại. Phải thừa nhận rằng cá nhân con người với tư cách là một thực thể tự nhiên - xã hội, có những quyền cơ bản xác định. Việc thừa nhận các quyền này đã được cộng đồng loài người ghi nhận trong nhiều công ước quốc tế.

Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận khái niệm "quyền con người" với nội dung chính trị pháp lý rộng hơn để phản ánh giá trị của cá nhân con người trong mối quan hệ với một nhà nước nhất định, đồng thời là giá trị tổng hợp được cộng đồng quốc tế thừa nhận.

Như vậy, cả bốn bản Hiến pháp vấn đề “quyền cơ bản của con người” đều được ghi nhận nó gắn liền với những quyền cơ bản của công dân. Hiến pháp sau là sự kế thừa có chọn lọc, bổ sung những quyền của con người của Hiến pháp trước. Có thể nói vấn đề đảm bảo những quyền cơ bản của con người là một trong những tư tưởng xuyên suốt lịch sử lập hiến của nhà nước ta.

- Nguồn: http://duchoaiblog.blogspot.com -

Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Thứ 4, 2010-03-17, 9:09 AM
 
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 8:48 AM | Số tin # 13
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
Một đống tài liệu môn Hiến Pháp + Câu hỏi trả lời nó luôn ( pp, word...)
http://www.mediafire.com/?nakezxn2zmy


Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Thứ 4, 2010-03-17, 8:49 AM
 
wanwelunThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 8:50 AM | Số tin # 14
Major
Nhóm: Administrators
Bài viết: 91
Phần thưởng: 12
Đẳng cấp: 0
Trạng thái: Rời mạng
Đọc xong thấy wen wen ah nha !!!!!

Gặp ở đâu rồi ta ????

Hình như trong file nén của mình cũng có nữa ah !!!

hehehehe


Trên đời, có nhiều thứ quý hơn tiền, song lại được mua bằng tiền

 
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 8:52 AM | Số tin # 15
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
Quote
Đọc xong thấy wen wen ah nha !!!!!

Gặp ở đâu rồi ta ????

Hình như trong file nén của mình cũng có nữa ah !!!

hehehehe


uh. vay ha!?dau co biet dau, thay hay dua len ma, vi a e nhe. haha[size=16]


Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Thứ 5, 2010-03-18, 6:49 AM
 
Diễn đàn » THÔNG TIN MÔN HỌC » Hiếp Pháp » Hỏi đáp (tham khảo)
Page 1 of 3123»
Search: