Hỏi đáp - Page 2 - Diễn đàn
[ New messages · Members · Forum rules · Search · RSS ]
Page 2 of 3«123»
Diễn đàn » THÔNG TIN MÔN HỌC » Hiếp Pháp » Hỏi đáp (tham khảo)
Hỏi đáp
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 9:17 AM | Số tin # 16
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
Về vị trí của Viện kiểm sát trong hệ thống bộ máy Nhà nước
Ở nước ta, cơ quan Viện kiểm sát thuộc hệ thống các cơ quan tư pháp, do đó, việc xác định vị trí của hệ thống cơ quan này phải trên cơ sở bảo đảm sự độc lập của hệ thống cơ quan tư pháp. Viện kiểm sát là một thiết chế đặc thù trong tổ chức bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Yêu cầu đặt ra đối với các Kiểm sát viên là phải hành động một cách vô tư, khách quan, căn cứ vào các tiêu chí pháp luật, không thiên vị. Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp thì cần tổ chức Viện kiểm sát thành một hệ thống cơ quan Nhà nước độc lập. Từ năm 1945 đến nay, việc xác định vị trí của cơ quan Công tố/Kiểm sát trong bộ máy Nhà nước ta luôn luôn thể hiện xu hướng khẳng định sự độc lập của hệ thống cơ quan này. Từ khi thành lập Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân luôn là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy Nhà nước, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành. Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm; chịu sự giám sát của Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Nước trong thời gian Quốc hội không họp.
Ở một số nước có nền kinh tế chuyển đổi như Trung Quốc, Liên bang Nga, Viện kiểm sát là cơ quan độc lập với Chính phủ và Toà án. ở Trung Quốc, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra và chịu trách nhiệm trước cơ quan này. Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Tại Liên bang Nga, Tổng Kiểm sát trưởng do Hội đồng liên bang (giống Thượng nghị viện) bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Tổng thống. Phó Tổng Kiểm sát trưởng do Hội đồng liên bang bổ nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Tổng Kiểm sát trưởng. Viện kiểm sát Liên bang Nga được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành, các Kiểm sát viên cấp dưới phải phục tùng Kiểm sát viên cấp trên và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Tổng Kiểm sát trưởng; thực hiện các thẩm quyền của mình độc lập với chính quyền địa phương.
Ngay tại một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Viện công tố cũng được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành, độc lập với các cơ quan chính quyền địa phương. Các Công tố viên chịu sự lãnh đạo của Công tố viên cấp trên trực tiếp và thống nhất chịu sự lãnh đạo của Tổng Công tố trưởng.
Từ những kinh nghiệm trên và với chức năng, nhiệm vụ như đã trình bày thì hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát sau năm 2010 là một hệ thống cơ quan Nhà nước độc lập, thống nhất từ Trung ương đến địa phương.
Tại Báo cáo số 16-BC/CCTP ngày 05/9/2007 của Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương “Báo cáo kết quả nghiên cứu về cải cách tư pháp tại Canada, Trung Quốc và Nhật Bản” của Đoàn công tác của Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp theo ý kiến chỉ đạo của Đồng chí Nguyễn Minh Triết, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Nước, cũng đã khẳng định: “Đối với Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống Viện kiểm sát theo cơ cấu ngành dọc để bảo đảm tính độc lập trong công tác chuyên môn; việc xây dựng mô hình Viện công tố trực thuộc Chính phủ, chỉ đạo Cơ quan điều tra cần nghiên cứu thận trọng, không nóng vội”.
Qua tổng kết quá trình xây dựng, phát triển của ngành Kiểm sát và tham khảo kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy cần tiếp tục duy trì hệ thống tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát sau năm 2010 theo hướng cơ bản là:
- Các Viện kiểm sát tiếp tục thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các hoạt động tư pháp;
- Tổ chức hệ thống Viện kiểm sát là một hệ thống độc lập, thống nhất từ Trung ương đến địa phương.

(nguồn svluat.vn)

Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Thứ 4, 2010-03-17, 9:18 AM
 
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 12:48 PM | Số tin # 17
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
Nên hay không nên chuyển viện kiểm sát thành viện công tố?

Vấn đề này hiện đang là vấn đề nổi cộm trong cải cách tư pháp ở nước ta. Bộ Chính trị đang kiến nghị chuyển đổi từ mô hình Viện kiểm sát độc lập sang mô hình Viện Công tố trực thuộc Chính phủ. Hiện có nhiều quan điểm trái chiều về việc này. Dưới đây là hai bài viết với 2 quan điểm khác nhau như thế.

Quan điểm thứ nhất: Nên giữ nguyên mô hình Viện kiểm sát độc lập, và đổi mới tổ chức, hoạt động của nó cho phù hợp với hoạt động của Nhà nước. (Quan điểm của PGS.TS.Nguyễn Thái Phúc, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh)

Mô hình VCT đã từng tồn tại ở Việt Nam do người Pháp du nhập vào sau khi xâm chiếm Việt Nam làm thuộc địa. Mô hình đó đã tiếp tục tồn tại sau Cách mạng Tháng Tám 1945, mặc dù hệ thống pháp luật và bộ máy nhà nước của chế độ thực dân – phong kiến bị xóa bỏ, thay vào đó là bộ máy của nhà nước kiểu mới. Do hoàn cảnh lịch sử của nước ta lúc đó Hiến pháp 1946 chỉ đề cập đến tổ chức tòa án. Trong cơ cấu của tòa án có các công tố viên làm nhiệm vụ buộc tội nhân danh nhà nước trước phiên tòa trong các vụ án hình sự. Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, năm 1958 VCT Trung ương được thành lập trên cơ sở tách các công tố viên ra khỏi tòa án, đánh dấu bước khởi đầu trong việc hình thành một hệ thống cơ quan nhà nước độc lập với tòa án nhưng VCT Trung ương vẫn trực thuộc Chính phủ. Hoạt động chủ yếu của VCT vẫn là hoạt động công tố trước tòa án nhưng đã bao hàm một số yếu tố của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật như kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử và kiểm sát giam giữ cải tạo. Nhưng chỉ chưa đầy hai năm sau mô hình VCT đã chấm dứt tồn tại. Vào thời điểm năm 1959-1960 cách mạng nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới – giai đoạn xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho CNXH ở miền Bắc làm hậu thuẫn cho đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. “Nhu cầu của cuộc cách mạng XHCN đòi hỏi pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, đòi hỏi một sự nhất trí về mục đích và hành động trong nhân dân, giữa nhân dân và nhà nước cũng như giữa các ngành hoạt động nhà nước với nhau. Nếu không đạt được sự thống nhất trong việc chấp hành pháp luật thì sự nghiệp xây dựng CNXH sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì lẽ trên phải tổ chức ra Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm giữ vững pháp chế XHCN, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”. Như vậy sự ra đời của mô hình VKS thay thế cho mô hình VCT ở nước ta gắn liền với yêu cầu của nhiệm vụ bảo đảm pháp chế thống nhất – điều kiện nền tảng cho việc xây dựng nhà nước kiểu mới. Yêu cầu này càng có tính khách quan nếu xuất phát từ những đặc điểm lịch sử của đất nước vào thời điểm đó: nền kinh tế lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến, tâm lý dân tộc chịu ảnh hưởng nặng nề của quá khứ hàng nghìn năm phong kiến đầy rẫy những thiên kiến về pháp luật. Trước hết phải kể đến sự ảnh hưởng của Nho giáo đề cao đức trị thay cho pháp trị. Trong xã hội phong kiến Việt Nam với cơ cấu làng xã cổ truyền luật pháp của nhà nước trung ương luôn bị đặt dưới hương ước làng xã vì luật pháp phong kiến chỉ điều chỉnh những lĩnh vực trực tiếp liên quan đến lợi ích sống còn của nhà vua và hoàng tộc, trong khi đó hương ước của làng xã do cộng đồng dân cư tự đặt ra giải quyết hầu hết những vấn đề thiết thực liên quan đến đời sống của mỗi người dân, mỗi gia đình nên được người dân quan tâm và tự nguyên chấp hành. Thực trạng đó hình thành thói quen coi thường luật pháp của nhà nước, tùy tiện trong chấp hành luật pháp. Có quan điểm còn cho rằng để chống lại chính sách đồng hóa của chính quyền đô hộ trong thời kỳ một nghìn năm Bắc thuộc khắc nghiệt, bên cạnh truyền thống anh dũng quật cường đã hình thành một truyền thống khác của dân tộc ta: truyền thống coi tục (lệ làng) là luật, coi luật pháp của nhà nước là cái đối lập với mình. Điều đó tạo nên trong người Việt một lối sống không theo pháp luật – lối sống đã giúp người Việt giữ gìn bản sắc dân tộc.

Hiến pháp 1959 là Hiến pháp lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến ở nước ta đã ghi nhận sự ra đời của một loại hình cơ quan nhà nước mới trong bộ máy nhà nước. Đó là hệ thống cơ quan VKS. Sự ra đời của VKS và các quy định của Hiến pháp về VKS đã cho thấy vị trí quan trọng của nó trong đời sống nhà nước. Hiến pháp quy định chức năng và phạm vi hoạt động của VKS: thực hiện kiểm sát tuân theo pháp luật trong phạm vi cả nước (Điều 105). Bối cảnh lịch sử ra đời của VKS đã cho thấy việc lựa chọn mô hình VKS ở nước ta là sự lựa chọn có cân nhắc, có ý thức chứ không phải sự sao chép máy móc kinh nghiệm của nước ngoài. Chỉ có VKS mới có khả năng thực hiện chức năng bảo đảm pháp chế thống nhất, bảo đảm tuân thủ pháp luật nghiêm chỉnh trong phạm vi cả nước nhờ có các nguyên tắc tổ chức và hoạt động đặc thù của nó.

Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 dành hẳn một điều ghi nhận nguyên tắc “nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN”. Các Hiến pháp này có một số bổ sung nhỏ về tổ chức, hoạt động của VKS như quy định Viện trưởng VKS các cấp phải báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân địa phương về tình hình thực thi pháp luật ở địa phương và trả lời chất vấn, quy định về Ủy ban Kiểm sát có quyền hạn lớn hơn Viện trưởng. Theo đánh giá của chúng tôi thì những quy định này là bước thụt lùi so với mô hình VKS của Lênin. Mặc dù vậy các Hiến pháp này vẫn giữ nguyên chức năng nhà nước của VKS và vẫn được khẳng định VKS là cơ quan “bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.

Có thể nói VKS theo mô hình Hiến pháp 1959, 1980, 1992 là chỗ dựa cần thiết, quan trọng và hiệu quả nhất cho Quốc hội trong hoạt động giám sát tuân thủ Hiến pháp, luật của Quốc hội so với bất kỳ cơ quan nhà nước nào. Cụ thể:

+ Quốc hội thường kỳ nhận được những thông tin đầy đủ nhất, toàn diện nhất về tình hình pháp chế trong cả nước thông qua báo cáo của Viện trưởng VKSNDTC trước Quốc hội, từ tình hình tội phạm cho đến tình hình pháp chế trong các lĩnh vực quản lý nhà nước và lĩnh vực hoạt động tư pháp.

+ Quốc hội có thể có những giải pháp kịp thời, đồng bộ, mạnh mẽ nhằm tăng cường pháp chế trong một lĩnh vực cụ thể nào đó thông qua hoạt động của VKS với các ưu thế của nó. Hãy lấy thí dụ từ thực tiễn. Vào đầu những năm 1990 để ngăn chặn tình hình vi phạm Luật Đất đai lúc này đã trở nên nghiêm trọng Quốc hội đã ra nghị quyết giao cho ngành kiểm sát triển khai kiểm sát việc chấp hành Luật Đất đai trong phạm vi cả nước. Đây là lĩnh vực phức tạp vì thường gắn liền với các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương. Dưới sự chỉ đạo của VKSNDTC các VKSND các cấp trong cả nước (trên 500 quận huyện và 61 tỉnh thành) đồng loạt tiến hành kiểm sát việc chấp hành Luật Đất đai và đã phát hiện nhiều vi phạm từ việc ban hành văn bản trái pháp luật đến các hành vi chuyển nhượng, lấn chiếm trái phép. Các biện pháp của VKS như kháng nghị yêu cầu hủy bỏ các quyết định cấp đất trái pháp luật, kiến nghị khắc phục sửa chữa vi phạm, thu hồi đất đến quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với các vi phạm Luật Đất đai nghiêm trọng... đã góp phần tạo chuyển biến đáng kể trong việc lập lại kỷ cương pháp luật trong lĩnh vực đất đai.

+ Quốc hội cũng có thể thấy được những hạn chế trong hoạt động lập pháp của mình thông qua hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật của VKS vì không có hoạt động nào có thể có những thông tin đầy đủ, phong phú về vấn đề này bằng hoạt động kiểm sát.

Như đã nói ở trên trong công cuộc đổi mới ở nước ta đã xuất hiện nhiều ý kiến đề nghị xem xét lại chức năng của VKS khi xây dựng Hiến pháp 1992. Lập luận chủ yếu của những ý kiến này là sự chồng chéo chức năng giữa VKS và cơ quan thanh tra. Những ý kiến này đề nghị VKS chỉ thực hiện chức năng công tố và đổi VKS thành VCT. Quốc hội lúc đó đã không chấp nhận và Hiến pháp 1992 vẫn giữ nguyên mô hình VKS trong bộ máy nhà nước.

Hiến pháp 1992 sửa đổi đã thu hẹp phạm vi hoạt động của VKS chỉ còn “thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”. Đương nhiên sự thay đổi này đã kéo theo sự giảm sút về vai trò của VKS trong Nhà nước. Từ chỗ được Hiến pháp nhìn nhận như là nhân tố chính “bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất “ thì bây giờ hoạt động của VKS chỉ là nhân tố “góp phần” cho quá trình đó mà thôi. VKS theo Hiến pháp 1992 sửa đổi đã tiến gần đến mô hình VCT vì hoạt động đặc trưng nhất của nó là kiểm sát tuân theo pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước không còn nữa. Sự khác biệt giữa mô hình VKS và VCT đã bị thu hẹp đáng kể.

Nếu nhìn xuyên suốt qua các sự kiện trên thì có thể thấy rõ xu hướng thu hẹp, điều chỉnh dần dần chức năng của VKS rồi đến thay thế mô hình VKS bằng mô hình VCT. Nếu điều này thực sự xảy ra thì quy luật phủ định của phủ định đã được áp dụng với VKS. VKS đã phủ định VCT và đến lượt mình giờ đây nó lại bị VCT phủ định. Nếu nhìn sự kiện ở góc độ như một quá trình thì đầu tiên là VCT (từ 1945-1959), tiếp theo là VKS (từ 1959 đến nay) và 2020 sẽ là VCT. Như vậy, sau 60 năm chúng ta lại sẽ trở lại điểm xuất phát ban đầu của mình là VCT. Vậy đây thực sự là bước phát triển – quay lại điểm xuất phát ban đầu nhưng ở tầm cao hơn như đường xoáy trôn ốc hay là vòng tròn luẩn quẩn? Câu trả lời ở đây sẽ tùy thuộc vào chỗ: VCT mà chúng ta đang tiến đến có gì khác so với VCT đã từng tồn tại ở nước ta trước 1960?

Toàn bộ quá trình thay đổi và xu hướng đang diễn ra ở nước ta liên quan đến VKS đang đặt ra một số vấn đề sau đây:

1. So sánh VCT và VKS một cách khách quan thì khó có thể nói là mô hình nào tối ưu hơn mô hình nào. Mỗi mô hình đều có những mặt tích cực và hạn chế của nó. Không có mô hình nào là lý tưởng. Việc hình thành, lựa chọn mô hình này hay mô hình khác ở mỗi quốc gia là kết quả của quá trình phát triển lịch sử lâu dài, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, điều kiện lịch sử khác nhau. Nhưng ở khía cạnh lý luận khó có thể phủ nhận mô hình VKS là mô hình thích hợp hơn với các quốc gia đặt mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền. Hoạt động của VKS chính là công cụ thực hiện tư tưởng nhà nước pháp quyền, khẳng định nguyên tắc thượng tôn pháp luật, là người bảo vệ pháp luật quan trọng nhất của quốc gia. Hiến pháp 1992 sửa đổi xác định mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta. Do vậy điều quan trọng nhất là chúng ta phải đưa ra được những lập luận để lý giải rằng VCT mới đích thực là cái mà chúng ta cần trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền chứ không phải là VKS? Những lập luận như vậy chưa có.

(còn tiếp)

 
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 12:49 PM | Số tin # 18
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
2. Quan điểm cho rằng hoạt động của VKS hoàn toàn trở nên thừa không cần thiết khi pháp luật đã thừa nhận quyền của công dân, tổ chức khởi kiện tại tòa án khi thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm là không thuyết phục. Cần thấy rằng trong xã hội dân chủ thì cần có nhiều kênh bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể quan hệ pháp luật. Hình thức bảo vệ bằng tòa án không loại trừ khả năng của VKS trong lĩnh vực này. Hơn nữa trong nhiều trường hợp vi phạm pháp luật có liên quan đến lợi ích chung của xã hội, của số đông thì lúc này vai trò của cá nhân rất hạn chế và thụ động. Việc khởi kiện của cá nhân để bảo vệ lợi ích chung, trong đó có lợi ích của chính mình là điều khó khăn ở nhiều phương diện như khó khăn về tâm lý, thu thập chứng cứ, tài chính khi thưa kiện... Thí dụ như vụ nhập khẩu xăng pha acetone bán cho người tiêu dùng ở các tỉnh phía Nam vừa qua. Mỗi năm người tiêu dùng phía Nam bị móc túi 540 tỷ đồng do các hành vi gian lận thương mại của các cây xăng. Trong khi đó một trong những công ty nhập khẩu xăng dầu lớn là Petrolimex mới chỉ bồi thường tổng cộng có 14 trường hợp với tổng số tiền khoảng 14 triệu đồng[2]. Công dân có thể vì nhiều lý do khác nhau không thể tự bảo vệ bằng cách khởi kiện ra tòa án được nhưng nhờ sự can thiệp của VKS mà vi phạm pháp luật được ngăn chặn, quyền hợp pháp được khôi phục. Cần phát triển hoạt động của VKS như một hình thức bảo vệ quyền công dân hiệu quả chứ không phải phủ nhận nó.

3. Thu hẹp phạm vi hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật hoặc thậm chí là chuyển đổi mô hình VKS sang mô hình VCT trong điều kiện hiện nay là một quyết định chưa thực sự thuyết phục ở góc độ phương pháp luận. Trước yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước chúng ta có hai lựa chọn đối với VKS: Hoặc là thu hẹp chức năng và tiến tới là chuyển đổi VKS thành VCT hoặc là phải đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động của VKS cho phù hợp với những thay đổi trong xã hội, trong nền kinh tế. Thực tế cho thấy dường như chúng ta chỉ đơn giản lựa chọn phương án thứ nhất mà không hề quan tâm đến phương án thứ hai. Liệu như vậy có biện chứng hay không?

Điều mà chúng ta không thể bỏ qua được là dù có những thay đổi gì đi nữa thì Nhà nước của chúng ta vẫn là nhà nước kiểu mới với những nguyên tắc tổ chức quyền lực khác với các nhà nước phương Tây. Lịch sử thế giới và lịch sử của chính nước ta cho thấy mô hình VKS luôn gắn liền với nhà nước kiểu mới này.

4. Khi chúng ta thu hẹp chức năng hay chuyển đổi VKS thành VCT thì liệu điều tốt đẹp gì sẽ xảy ra? Những chức năng mà VKS xưa nay đã và đang làm do nhu cầu của xã hội thì bây giờ được chuyển giao cho ai? Hoặc là xã hội, nhà nước không còn nhu cầu về pháp chế thống nhất hoặc là nhu cầu đó vẫn tồn tại khách quan thậm chí còn yêu cầu găy gắt hơn nhưng ai sẽ thay thế VKS để thực hiện và liệu thực hiện có tốt hơn VKS hay không? Những vấn đề như vậy chưa có câu trả lời trong Chiến lược Cải cách tư pháp. Nhưng thực tiễn thì đã trả lời phần nào. Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) bỏ chức năng KSC của VKS đã thực sự tạo ra khoảng trống pháp luật vì không một cơ quan nhà nước nào được chỉ định thay thế chức năng này của VKS. Và nếu có một cơ quan nào đó được Hiến pháp chỉ định thì về lý thuyết cũng khó có thể thay thế được VKS. Các đại biểu Quốc hội chuyên trách không thể thay thế cho cả hệ thống cơ quan VKSND trong hơn 600 quận huyện và 64 tỉnh thành trong hoạt động giám sát tính hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật. Các cơ quan tư pháp địa phương cũng không có khả năng đó. Trước kia chỉ tính riêng VKS thành phố Hải phòng một năm đã nghiên cứu 577 văn bản phát hiện 66 văn bản vi phạm chủ yếu trong lĩnh vực phí và lệ phí, xử phạt hành chính đồng thời phát hiện 1002/2432 quyết định hành chính có vi phạm về thẩm quyền, căn cứ áp dụng.[3] Trong thời gian qua việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các Bộ và các địa phương hoàn toàn nằm ngoài sự kiểm soát của Nhà nước. Có 33 địa phương tự ý ban hành các quy định bổ sung về ưu đãi đầu tư trái với Luật Đầu tư nước ngoài vì muốn thu hút đầu tư nước ngoài về địa phương mình. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 80 về xử lý, sắp xếp lại nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và yêu cầu các Bộ kê khai. Có 18 đơn vị trực thuộc trung ương không kê khai. Đã phát hiện khoảng 3 triệu m2 nhà đất sử dụng sai công năng. Mặc dù Quốc hội đã có Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, Chính phủ có định mức tiêu chuẩn cụ thể triển khai từ nhiều năm, vậy mà năm 2002 vẫn còn 13/33 bộ, ngành, 41/61 tỉnh thành chi mua ô tô vượt chuẩn định mức 33,8 tỷ đồng. Đây chính là những biểu hiện cục bộ địa phương, bản vị, thoát ly nhà nước trung ương. Trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính cũng vậy. Vì không có sự tham gia của VKS trong lĩnh vực này nên sự tùy tiện và lạm dụng quyền hạn của các cơ quan nhà nước trở nên khó kiểm soát là điều tất yếu. Kết quả của việc thu hẹp chức năng của VKS là gì? Đó là việc Nhà nước mất đi một chỗ dựa quan trọng bảo vệ pháp chế, bảo đảm trật tự kỷ cương pháp luật và người dân đã mất đi một lá chắn bảo vệ quyền, tự do của mình.

5. Trong điều kiện hiện nay khi đấu tranh chống tham nhũng là “quyết tâm chính trị của Đảng ta nhằm xây dựng một bộ máy lãnh đạo và quản lý trong sạch, vững mạnh, khắc phục một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta”[4] thì việc duy trì và đổi mới họat động mô hình VKS là hoàn toàn phù hợp chứ không phải là mô hình VCT. VCT không phải là mô hình thích ứng cho đấu tranh chống tội phạm nói chung và tham nhũng nói riêng. Mô hình VKS có nhiều ưu thế hơn hẳn VCT trong lĩnh vực này vì hai lý do sau đây:

Thứ nhất là VKS có nhiều khả năng phòng ngừa, răn đe và chủ động trong đấu tranh chống tội phạm. Khi chúng ta bỏ hoạt động KSC và sắp tới là chuyển VKS thành VCT với mong muốn để VKS (hay VCT) tập trung vào hoạt động công tố nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tội phạm thì liệu điều đó có xảy ra hay không? Về lý thuyết là không. Hoạt động của VKS trong các lĩnh vực khác nhau có mối quan hệ hữu cơ với nhau như một thể thống nhất, hoạt động này hỗ trợ cho hoạt động kia và ngược lại. Hoạt động quản lý kinh tế - hành chính là lĩnh vực diễn ra nhiều vi phạm pháp luật nhất. Trong năm 2002 chỉ mới kiểm tra ở một số địa bàn trọng điểm về quản lý sử dụng đất đai và đầu tư xây dựng cơ bản đã phát hiện 175.034 trường hợp vi phạm với số diện tích sang nhượng trái pháp luật là 136.862 ha. Các vi phạm quản lý kinh tế đã làm thất thoát 2.739 tỷ đồng và 12.512 ha đất. Hoạt động KSC – kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế - hành chính có tính phòng ngừa, ngăn chặn, răn đe tội phạm rất cao và có mối quan hệ trực tiếp đến hiệu quả đấu tranh chống tội phạm vì khả năng phát hiện tội phạm rất lớn. Thực tiễn những năm qua cho thấy mối quan hệ gần gũi giữa vi phạm hành chính và tội phạm. Lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính luôn là chỗ “ẩn náu an toàn” cho các hành vi có dấu hiệu tội phạm. Dưới vỏ bọc “xử lý nội bộ”, “xử lý hành chính” người ta dễ dàng chạy tội, vô hiệu hóa nguyên tắc không tránh khỏi hình phạt của Bộ luật Hình sự. Kết quả hoạt động kiểm sát trong lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế và hành chính là một kênh thông tin vô cùng quan trọng cho VKS quyết định khởi tố vụ án, truy cứu trách nhiệm hình sự của những người phạm tội, ngăn chặn hậu quả của tội phạm một cách kịp thời. Bây giờ kênh thông tin quan trọng này cho phép VKS chủ động trong đấu tranh chống tội phạm không còn nữa và VKS (hay VCT) chỉ còn cách thụ động ngồi chờ tin báo, tố giác tội phạm do công dân, tổ chức gửi đến. Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ về tình hình triển khai thực hiện Luật phòng chống tham nhũng năm 2006 trong số 28 bộ, ngành và 58 tỉnh thì chỉ có 6 Bộ ngành và 18 tỉnh báo cáo có phát hiện vụ việc tham nhũng ở đơn vị, 22 bộ ngành và 40 tỉnh còn lại báo cáo không phát hiện vụ việc tham nhũng ở đơn vị mình.

Thứ hai là các nguyên tắc tổ chức và hoạt động đặc thù của VKS đã tạo cho VKS những lợi thế hơn hẳn bất kỳ cơ quan nhà nước nào trong đấu tranh chống tham nhũng. Tham nhũng thường gắn liền với sự lạm dụng quyền hạn, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của luật trong hoạt động của hành pháp và tư pháp vì động cơ trục lợi. Nếu theo mô hình VCT thì cơ quan này hoặc trực thuộc hành pháp hoặc trực thuộc tư pháp thì tính phụ thuộc của nó vào một trong hai nhánh quyền lực này sẽ hạn chế hiệu quả phát hiện, truy tố các vụ án tham nhũng. Với mô hình VKS thì ngược lại. VKS là một hệ thống cơ quan nhà nước độc lập với các cơ quan hành pháp, tư pháp. Các VKS cấp dưới trong hoạt động của mình chỉ chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKS cấp trên và của Viện trưởng VKSNDTC, không phụ thuộc vào bất kỳ cơ quan nhà nước địa phương nào. Viện trưởng VKSNDTC do Quốc hội bầu, chỉ chịu trách nhiệm và báo cáo hoạt động của mình trước Quốc hội.

Hai lý do này cho phép kết luận là nếu chúng ta thực sự muốn đấu tranh chống tham nhũng hiệu quả thì lựa chọn duy nhất đúng là mô hình VKS chứ không phải là mô hình VCT.

Kết luận

Hội thảo “VCT ở châu Âu trong thế kỷ 21” đã kết luận: nếu chỉ có lĩnh vực hình sự thì quá hạn chế do vậy nên nhìn nhận vai trò của VCT trong lĩnh vực pháp luật dân sự, thương mại và xã hội. Hơn nữa, với mục đích bảo đảm sự phản ứng hiệu quả trước hiện tượng tội phạm cần nghiên cứu khả năng hoạt động của VCT trong lĩnh vực thuế, tài chính, hành chính và các lĩnh vực khác...”. Có thể thấy sự trái ngược về tư duy ở đây giữa ta và “tây”. Ở “tây” người ta đang muốn mở rộng phạm vi hoạt động của VCT vượt ra ngoài phạm vi truyền thống của nó là TTHS tức là đã nhìn thấy những hạn chế của chính mô hình VCT và ưu việt của mô hình Viện kiểm sát. Còn ở ta thì lại đang muốn thu hẹp phạm vi hoạt động rộng lớn của VKS và chuyển đổi mô hình VKS sang mô hình VCT.

Cố phó chủ tịch Quốc hội là Phùng Văn Tửu đã nhận định về vai trò của VKS trong công cuộc bảo vệ pháp chế thống nhất như sau: “Nếu xét về thực tế cuộc đấu tranh chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước, chống tiêu cực trong xã hội nhất là trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh những năm vừa qua thì rõ ràng là ngành kiểm sát đã có những đóng góp tích cực, góp phần phát hiện một số vụ nghiêm trọng làm thất thoát tiền bạc, vật tư tài sản của Nhà nước... Cùng đấu tranh để lập cho được kỷ cương trong quản lý nhà nước, nhất là trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh còn diễn biến rất gay go, quyết liệt. Kinh nghiệm từ chục năm nay cho thấy cuộc đấu tranh này rất khó khăn phức tạp vì không phải đơn thuần chống bọn tội phạm hình sự ngoài xã hội mà là cuộc đấu tranh làm trong sạch đội ngũ cán bộ, nâng cao sức chiến đấu của Đảng, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước. Vậy lẽ nào trong cuộc đấu tranh gay go quyết liệt, khó khăn phức tạp này chúng ta lại tự xóa đi một trong những công cụ đấu tranh đã được thử thách và đã từng thu được những kết quả hiển nhiên”.[5]

[1] Đề án “Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp ở nước ta” do tiểu ban Xây dựng Đề án Cải cách tư pháp soạn thảo ngày 12/3/1997.

[2] Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh ngày 11/10/2006 và Báo Doanh nghiệp ngày 26/11/2006.

[3] Báo Diễn đàn doanh nghiệp ngày 01/3/2001.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006.

[5] Phùng Văn Tửu, Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước và Pháp luật của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1999.

Nguồn: http://www.hcmulaw.edu.vn

(còn tiếp)

 
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 12:50 PM | Số tin # 19
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
Nên hay không nên chuyển viện kiểm sát thành viện công tố?

Quan điểm thứ 2: Ủng hộ việc chuyển mô hình VKS thành Viện Công tố (Quan điểm của Bùi Ngọc Sơn, khoa Luật ĐH Quốc gia Hà Nội)

1. Kiểm sát chung thuộc bản chất của Viện kiểm sát

Viện kiểm sát là một thiết chế đặc thù của Nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN). Ở Việt Nam, từ khi chế độ XHCN được xác lập chính thức, Viện kiểm sát mới ra đời. Hiến pháp Việt Nam năm 1946 không phải là Hiến pháp XHCN nên không có thiết chế Viện kiểm sát. Viện kiểm sát ở Việt Nam chính thức được xác lập trong bản Hiến pháp năm 1959 và được duy trì trong các Hiến pháp tiếp theo (1980,1992), và có sự điều chỉnh về chức năng.

Vấn đề đặt ra là, tại sao trong Nhà nước XHCN lại tồn tại thiết chế Viện kiểm sát? Ngày nay, người ta giải thích sự hiện diện của Viện kiểm sát gắn liền với hai nguyên tắc quan trọng trong việc tổ chức và vận hành quyền lực ở các Nhà nước XHCN: tập quyền XHCN và pháp chế XHCN.

Nguyên tắc tập quyền XHCN được C. Mác chỉ ra đầu tiên trên cơ sở nghiên cứu Công xã Paris và sau đó, được Lênin hoàn thiện trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” (1). Cốt lõi của nguyên tắc này là quyền lực nhà nước được tổ chức tập trung vào cơ quan đại diện tối cao của nhân dân (được gọi là cơ quan quyền lực nhà nước). Sự tập trung quyền lực về thiết chế đại diện này là điểm chính yếu bảo đảm sự thống nhất quyền lực nhà nước: quyền lực có một điểm hội tụ (không phải phân tán như trong chế độ phân quyền), có sự trật tự trong hệ cấp quyền lực (không phải là các ngành quyền lực bình đẳng nhau như trong chế độ phân quyền). Sự hội tụ và sự trật tự của quyền lực sẽ làm cho quyền lực có một điểm thống nhất và không có sự kìm chế, đối trọng lẫn nhau, dẫn đến triệt tiêu nhau của các định chế quyền lực.

Trong hệ thống quyền lực này, thiết chế được coi là điểm hội tụ quyền lực chính là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao. Để bảo đảm sự hội tụ quyền lực về thiết chế này, các định chế còn lại được tổ chức theo cách do thiết chế đại diện lập ra, ở một hệ cấp thấp hơn thiết chế này, và chịu sự giám sát tối cao của thiết chế này. Theo nguyên lý này, Quốc hội theo Hiến pháp Việt Nam là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thành lập ra các định chế quyền lực còn lại ở trung ương và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với các định chế này gồm: Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Tuy nhiên, áp dụng mở rộng lý thuyết tập quyền XHCN, người ta cho rằng, sự thống nhất quyền lực không chỉ yêu cầu các định chế quyền lực ở trung ương phải thống nhất với Quốc hội mà còn yêu cầu địa phương phải thống nhất với trung ương. Về nguyên lý tập quyền XHCN, Quốc hội phải là người giám sát toàn bộ quyền lực nhà nước. Điều 83 của Hiến pháp Việt Nam cũng quy định: “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước”. Tuy vậy, Quốc hội sẽ quá tải nếu thực hiện điều đó vì ngoài giám sát, Quốc hội còn phải lập pháp, quyết định những vấn đề trọng đại của quốc gia. Do đó, một sự phân cấp quyền giám sát là cần thiết. Quốc hội chỉ giám sát các định chế quyền lực ở trung ương, người đứng đầu của các định chế đó, còn ở địa phương, cá nhân, các tổ chức trong xã hội và một phần quyền lực ở trung ương như các Bộ, Quốc hội thành lập ra một thiết chế khác giúp mình thực hiện chức năng giám sát. Thiết chế đó là Viện kiểm sát. Chính vì vậy, việc thành lập Viện kiểm sát trong Nhà nước XHCN xuất phát từ nhu cầu giúp Quốc hội thực hiện chức năng giám sát, bảo đảm sự thống nhất quyền lực nhà nước.

Như vậy, có thể nói lý do chính dẫn đến sự ra đời của Viện kiểm sát với tư cách là một cơ quan độc lập, một trong bốn phân hệ quyền lực nhà nước ở Việt Nam, là để thực hiện chức năng giám sát được Quốc hội phân giao. Kiểm sát chung là nhiệm vụ chính yếu gắn với sự ra đời và lý do tồn tại của Viện kiểm sát. Kiểm sát chung vốn sinh ra từ quyền giám sát của Quốc hội được thực hiện bởi một cơ quan độc lập do Quốc hội thành lập ra – Viện kiểm sát.

Nguyên tắc pháp chế XHCN cũng là một cơ sở lý thuyết quan trọng dẫn đến sự ra đời của Viện kiểm sát. “Pháp chế chính là sự đòi hỏi các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân phải thực hiện đúng, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật trong hoạt động của mình” (2). Đáp ứng cho nhu cầu đó của pháp chế, Viện kiểm sát được thành lập. Viện kiểm sát, với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của mình, sẽ đảm bảo pháp chế. Cũng cần nói thêm rằng, pháp chế cũng yêu cầu các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước mà chủ yếu là các cơ quan hành chính, các cơ quan chính quyền địa phương, các nhân viên hành chính phải tuân thủ pháp luật. Viện kiểm sát được thành lập ra để bảo đảm pháp chế, nhưng đối tượng kiểm sát việc tuân theo pháp luật không bao gồm các hoạt động của Quốc hội, Nguyên thủ quốc gia, Chính phủ. Viện kiểm sát chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật từ Bộ trở xuống. Bản chất sâu xa nhất của pháp chế là luật pháp của trung ương phải được tôn trọng: các cơ quan hành chính, các cơ quan chính quyền địa phương, mọi tổ chức kinh tế, xã hội, đơn vị vũ trang, công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật do trung ương ban hành. Viện kiểm sát là một bảo đảm cho điều này.

Như vậy, lý do chính tồn tại Viện kiểm sát là nhu cầu về một thiết chế kiểm sát việc tuân theo pháp luật để bảo đảm nguyên tắc tập quyền XHCN và pháp chế XHCN. Viện kiểm sát sinh ra để thực hiện chức năng kiểm sát chung. Từ kiểm sát chung mới sinh ra chức năng công tố, bởi lẽ, trong quá trình kiểm sát chung nếu phát hiện có vi phạm pháp luật đến mức vi phạm hình sự, Viện kiểm sát sẽ có quyền truy tố người vi phạm ra tòa. Viện kiểm sát chỉ có thể là Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng kiểm sát chung.

Việc bỏ kiểm sát chung của Viện kiểm sát theo Hiến pháp sửa đổi năm 2001 là một bước tiến của nền lập hiến Viêt Nam trên con đường tiến tới chế độ pháp quyền. Các nhà lập hiến đã tỏ ra cởi mở khi nhận thức về lý thuyết pháp quyền và phân quyền. Họ đã nhận thấy kiểm sát chung không thích hợp với Nhà nước Việt Nam trong bối cảnh mới: bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền.

Tuy nhiên, cải cách hiến pháp năm 2001 chưa giải quyết thấu đáo những vấn đề liên quan đến việc bỏ kiểm sát chung. Như đã nói, lý do chính dẫn đến sự ra đời và tồn tại của Viện kiểm sát là kiểm sát chung. Về nguyên lý, không còn kiểm sát chung thì không còn lý do cho Viện kiểm sát tồn tại. Kiểm sát chung là bản chất của Viện kiểm sát. Cho nên, nếu còn giữ Viện kiểm sát với tư cách là một thiết chế độc lập thì không thể bỏ kiểm sát chung. Và nếu đã bỏ kiểm sát chung, Viện kiểm sát chỉ còn chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, trong đó thực hành quyền công tố là nhiệm vụ chính yếu, thì phải chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố. Nghị quyết số 49-NQ/TƯ ngày 20/06/2005 của Bộ Chính trị đã đưa ra chủ trương: “nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố”.
( còn tiếp)

Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Thứ 4, 2010-03-17, 12:51 PM
 
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 12:53 PM | Số tin # 20
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
2. Phê phán sự phê phán

Hiện nay, có nhiều quan điểm ủng hộ việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố và cũng nhiều quan điểm cố giữ hệ thống Viện kiểm sát và hoàn thiện thêm cho phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp. Gần đây nhất, trong cuộc Hội thảo quốc tế do Viện kiểm sát nhân dân tối cao và UNDP – Dự án VIE /02/05 tổ chức, đa số các tham luận trình bày tại Hội thảo phản đối việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố, cố giữ hệ thống Viện kiểm sát như hiện nay, khôi phục lại chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát. Lập luận chính yếu của những học giả này là Viện kiểm sát cần thiết để bảo đảm pháp chế XHCN, tập trung thống nhất quyền lực nhà nước (3).

Dù “khó” nhưng chúng tôi cũng xin đưa ra quan điểm phủ nhận quan điểm cho rằng, mô hình Viện kiểm sát thích hợp với Nhà nước Việt Nam hiện nay, một nhà nước theo “chế độ chính trị nhất nguyên, tổ chức quyền lực là thống nhất, đặt mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền”.

Trước tiên là về mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với nguyên tắc thống nhất quyền lực ở Việt Nam. Đúng là Viện kiểm sát, với chức năng cố hữu của nó là kiểm sát việc tuân theo pháp luật, có chức năng bảo đảm sự thống nhất quyền lực nhà nước; nhưng đó là sự thống nhất của các cơ quan nhà nước cấp dưới và địa phương với trung ương (4). Trong khi đó, lý thuyết thống nhất quyền lực nhà nước chỉ đặt ra vấn đề thống nhất quyền giữa các quyền lập pháp, hành pháp, và tư pháp; tức là ba đại công quyền ở trung ương. Ngay cả trong ba cơ quan này, vấn đề thống nhất quyền lực cũng chủ yếu liên quan đến mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp – những ngành quyền lực chính trị, những ngành quyền lực hoạch định và điều hành chính sách quốc gia (5). Nếu trở lại những luận điểm của những người sáng lập ra lý thuyết tập quyền XHCN thì chúng ta sẽ thấy rằng, vấn đề tập quyền, thống nhất quyền lực chủ yếu liên quan đến ngành lập pháp và hành pháp, không liên quan nhiều đến tư pháp và chính quyền địa phương.

Nghiên cứu công xã Paris, Mác rút ra kết luận: “Công xã không phải là một cơ quan đại nghị, mà là một cơ quan hành động, vừa lập pháp, vừa hành pháp”. Lênin giải thích thêm: “Một cơ quan “không phải là cơ quan đại nghị, mà là một cơ quan hành động”… Hãy xem bất cứ nước nào có chế độ đại nghị, từ Mỹ đến Thụy Sĩ, từ Pháp đến Anh, Na-uy, …thì cũng thấy rằng, công tác thật sự của “nhà nước” đều làm ở hậu trường và đều do các bộ, các văn phòng, các ban tham mưu làm. Trong các nghị viện người ta chỉ chuyên nói suông với mục đích duy nhất là lừa bịp “dân thường” thôi (6).”

Như vậy, theo nhận xét của Lênin, sự phân quyền trong chế độ đại nghị dẫn đến sự hình thức của cơ quan đại nghị, tức cơ quan do dân chúng bầu lên, cũng có nghĩa là ảnh hưởng tiêu cực đến chủ quyền nhân dân. Phân quyền tạo điều kiện cho sự bình đẳng quyền lực giữa lập pháp và hành pháp. Hành pháp, với ưu thế của mình là ngành quyền lực trực tiếp điều hành xã hội, ngành quyền lực nắm các lực lượng vật chất của xã hội, sẽ có nguy cơ lũng đoạn quyền lập pháp, biến cơ quan lập pháp trở thành cái máy nói suông. Để tránh nguy cơ này, bảo đảm chủ quyền của nhân dân, cơ quan đại diện của nhân dân phải là một cơ quan hành động, vừa lập pháp, vừa hành pháp.

Mô hình chính quyền Xô viết và các Nhà nước XHCN sau này đã mềm dẻo hơn khi nhận thức và áp dụng nguyên tắc tập quyền XHCN. Thực tế cho thấy cơ quan đại nghị không thể vừa lập pháp vừa hành pháp. Các Nhà nước XHCN đều chấp nhận thành lập ra thiết chế Chính phủ để thực thi quyền lập pháp. Nhưng để tránh nguy cơ cơ quan hành pháp này lại biến cơ quan đại nghị trở thành hình thức, lũng đoạn quyền lập pháp, ảnh hưởng đến chủ quyền nhân dân, cơ quan hành pháp đó phải phụ thuộc vào cơ quan đại nghị: do cơ quan đại nghị thành lập, cơ quan đại nghị ở một hệ cấp quyền lực tối cao chứ không bình đẳng vởi cơ quan hành pháp, cơ quan hành pháp là cơ quan chấp hành của cơ quan đại nghị.

Ở Việt Nam, trong từng giai đoạn lịch sử, nhận thức về nguyên tắc này cũng có những điều chỉnh. Tập quyền XHCN theo Hiến pháp 1980 là tập quyền mạnh: Hội đồng Bộ trưởng được quy định là cơ quan chấp hành và hành chính nhà nước cao nhất của Quốc hội; cơ quan thường trực của Quốc hội (ngành lập pháp) và nguyên thủ cá nhân (một định chế hành pháp) được nhập làm một: Hội đồng Nhà nước. Hiến pháp 1992 đã linh hoạt hơn trong việc nhận thức và áp dụng nguyên tắc tập quyền XHCN: Chính phủ không còn là cơ quan hành chính nhà nước của Quốc hội, mà là của Nhà nước; Hội đồng Nhà nước được tách làm hai thiết chế: ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước.

Sửa đổi Hiến pháp Viêt Nam năm 2001 sáng tạo thêm một bước khi chính thức thừa nhận sự phân công quyền lực giữa ba ngành: lập pháp, hành pháp, và tư pháp. Điều 2 của Hiến pháp sửa đổi năm 2001 đã sáng tạo trong việc kết hợp nguyên tắc phân quyền với nguyên tắc tập quyền XHCN khi tuyên bố: quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Điều này không làm mất đi bản chất của nguyên tắc tập quyền XHCN. Tập quyền XHCN vẫn có thể dung hợp với phân công quyền lực, miễn là sự phân công không dẫn đến phá vỡ sự thống nhất quyền lực. Muốn vậy, phân công quyền lực nhưng không được dẫn đến sự độc lập quyền lực. Bởi lẽ, độc lập quyền lưc tạo ra sự bình đẳng quyền lực giữa ba ngành và khi đó quyền lực sẽ không có một điểm hội tụ. Phân công quyền lực nhưng vẫn có thứ bậc trong trật tự quyền lực: Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Để bảo đảm sự thống nhất quyền lực, phân công quyền lực cũng không được đi đến sự chế ước quyền lực. Đương nhiên, khi không có sự độc lập và bình đẳng quyền lực thì sẽ không có sự chế ước quyền lực. Sự chế ước quyền lực dẫn đến sự tương tác lẫn nhau giữa các ngành quyền lực. Sự tương tác này có nguy cơ dẫn đến bế tắc, triệt tiêu quyền lực, phá vỡ sự thống nhất của quyền lực. Như vậy, mục đích của việc gìn giữ sự thống nhất quyền lực là để bảo đảm chủ quyền nhân dân, Chính phủ không thể biến Quốc hội thành hình thức hay lũng đoạn quyền lực của Quốc hội. Để bảo đảm sự thống nhất quyền lực ở Việt Nam, những điều này là thiết yếu: Quốc hội là cơ quan có quyền cao nhất; Chính phủ phải chấp hành trước Quốc hội: phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, không được phủ quyết luật của Quốc hội, không được tự đặt vấn đề bất tín nhiệm trước Quốc hội, không được yêu cầu giải tán Quốc hội. Như vậy, có thể nói Viện kiểm sát, với chức năng bản chất là kiểm sát chung, không liên quan gì đến sự thống nhất quyền lực.

Với những yếu tố bảo đảm sự thống nhất quyền lực nêu trên, có thể thấy rằng, tập quyền và thống nhất quyền lực không nhất thiết phải có chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát. Lý thuyết tập quyền XHCN chủ yếu nhấn mạnh đến sự thống nhất quyền lực giữa lập pháp và hành pháp, không nhấn mạnh đến sự thống nhất quyền lực giữa địa phương với trung ương. Các cơ quan hành chính, các cơ quan chính quyền địa phương – những cơ quan chấp hành chính sách quốc gia, không liên quan đến sự thống nhất quyền lực của quốc gia. Sự thống nhất quyền lực phụ thuộc vào các cơ quan có vai trò hoạch định và điều hành chính sách quốc gia, tức tác động đến sự vận hành tổng thể của quốc gia. Xét theo đó, các cơ quan hành chính nhà nước, các cơ quan chính quyền địa phương, cơ quan tư pháp – đối tượng thuộc quyền kiểm sát chung của Viện kiểm sát không liên quan thiết yếu đến sự thống nhất quyền lực nhà nước. Vì vậy, đặt vấn đề cần phải có Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát chung để bảo đảm sự thống nhất quyền lực nhà nước là không chính xác.

Tiếp theo, xin bàn đến lập luận cho rằng Viện kiểm sát cần thiết để bảo đảm pháp chế thống nhất. Đúng là kiểm sát tuân theo pháp luật giúp ích cho việc tuân thủ pháp luật do trung ương ban hành của các cơ quan hành chính, các cơ quan chính quyền địa phương, các tổ chức trong xã hội, và mọi công dân. Vấn đề đặt ra là trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, có nhất thiết phải đặt ra vấn đề tuân thủ pháp luật như thế không?

Khi cho rằng, kiểm sát việc tuân theo pháp luật phù hợp với “mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền” thì dường như người ta đang đánh đồng pháp chế với pháp quyền. Nếu pháp quyền và pháp chế là một thì năm 2001, Việt Nam không cần bổ sung quy định về Nhà nước pháp quyền vào trong Hiến pháp ở Điều 2 trong khi Điều 12 đã quy định rõ ràng về pháp chế. Pháp chế lấy sự tuân thủ pháp luật của trung ương làm chính yếu. Do đó, pháp chế sinh ra Viện kiểm sát với chức năng kiểm sát chung để buộc các cơ quan hành chính, các cơ quan chính quyền địa phương, các tổ chức trong xã hội và mọi công dân tuân thủ pháp luật do trung ương ban hành. Pháp quyền lấy sự giới hạn quyền lực lập pháp, hành pháp, và tư pháp – các đại công quyền ở trung ương làm chính yếu. Lý thuyết pháp quyền sinh ra trong bối cảnh của chế độ cực quyền – tức sự lạm dụng quyền lực của chính quyền, nên đặt ra vấn đề công quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp) phải bị giới hạn bởi luật pháp. Để giới hạn quyền lực của công quyền, lý thuyết pháp quyền chấp nhận việc người dân kiện lại các văn bản pháp luật do công quyền ban hành nếu các văn bản đó vi phạm quyền con người hoặc không có công lý. Pháp quyền, như vậy, đòi hỏi một ngành tư pháp độc lập để người dân có thể chống lại một cách hợp pháp các văn bản pháp luật của trung ương thiếu công lý hoặc vi phạm quyền con người. Điều này tồn tại ở các mô hình nhà nước pháp quyền ở Châu Âu cũng như mô hình pháp quyền ở Mỹ. Như vậy, theo lý thuyết pháp quyền, các văn bản pháp luật của trung ương như của Quốc hội, Nguyên thủ quốc gia, Chính phủ có thể là đối tượng bị kiện ra tòa bởi công dân. Do đó, kiểm sát chung của Viện kiểm sát không liên quan đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền. Trong khi kiểm sát chung hướng đến việc buộc người dân phải tuân theo pháp luật của trung ương thông qua Viện kiểm sát thì pháp quyền lại hướng đến việc người dân buộc trung ương phải tuân thủ pháp luật thông qua tòa án. Pháp chế cần Viện kiểm sát, còn pháp quyền cần đến Tòa án.

Không những thế, chúng tôi cho rằng, kiểm sát chung của Viện kiểm sát không thể dung hợp được với Nhà nước pháp quyền. Người ta phải lựa chọn một trong hai: hoặc là kiểm sát chung hoặc là Nhà nước pháp quyền, không thể lựa chọn cả hai. Sửa đổi Hiến pháp năm 2001 đã lựa chọn đúng khi lựa chọn nhà nước pháp quyền ở Điều 1 và bỏ kiểm sát chung ở Điều 137. Có ba lý do cho việc kiểm sát chung không dung hợp được với nhà nước pháp quyền:

Thứ nhất, trong khi Nhà nước pháp quyền giới hạn quyền lực của trung ương thì kiểm sát chung lại củng cố quyền lực này. Thực chất của kiểm sát chung là bảo đảm cho sức mạnh của quyền lực trung ương trước những nguy cơ đi ngược với trung ương của địa phương, các tổ chức trong xã hội và mọi công dân. Tuy nhiên, lý thuyết Nhà nước pháp quyền chấp nhận việc kiện lại các văn bản của trung ương tại Tòa án để giới hạn quyền lực của công quyền vì quyền và lợi ích hợp hiến của con người.

Thứ hai, trong khi Nhà nước pháp quyền cần người dân sử dụng pháp luật thì kiểm sát chung lại buộc người dân tuân thủ pháp luật. Tuân thủ pháp luật là một thái độ thụ động của người dân, được thực hiện với sự cưỡng chế của Nhà nước. Mục đích của điều này là để bảo đảm lợi ích của Nhà nước và trật tự chung của xã hội. Lý thuyết Nhà nước pháp quyền đặt vấn đề sử dụng pháp luật của người dân và việc tuân thủ pháp luật của Nhà nước. Pháp luật trong Nhà nước pháp quyền là pháp luật hợp công lý và quyền con người, nên người dân chủ động sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền của mình. Nếu người dân thụ động tuân thủ pháp luật là vì lợi ích của Nhà nước thì việc người dân chủ động sử dụng pháp luật lại là vì lợi ích của chính người dân.

Thứ ba, trong khi Nhà nước pháp quyền cần đến Tòa án thì kiểm sát chung lại cần đến Viện kiểm sát. Trong chế độ nhà nước pháp quyền, mọi vi phạm pháp luật đều phải được giải quyết công khai tại tòa án độc lập. Nhưng kiểm sát chung dẫn đến việc giải quyết các vi phạm pháp luật một cách đơn phương từ phía Nhà nước. Trong quá trình kiểm sát chung, nếu phát hiện ra có vi phạm pháp luật (trừ vi phạm hình sự), người vi phạm không có một chốn công khai để biện minh cho mình. Điều này không chấp nhận được trong Nhà nước pháp quyền.

Tóm lại, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, kiểm sát chung của Viện kiểm sát là không cần thiết. Bỏ kiểm sát chung của Viện kiểm sát là cắt đi lý do tồn tại của Viện kiểm sát và do đó, đồng nghĩa với việc cần phải bỏ hệ thống Viện kiểm sát tồn tại độc lập như hiện nay.

3. “Hậu” bỏ kiểm sát chung của Viện kiểm sát

Việc bỏ chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát là đúng, nhưng những việc làm “hậu” bỏ kiểm sát chung của Viện kiểm sát là chưa thực sự khoa học. Bỏ kiểm sát chung của Viện kiểm sát không đồng nghĩa với việc bỏ chức năng kiểm soát việc tuân theo pháp luật của Nhà nước. Chức năng này không nên để ở Viện kiểm sát nhưng nó cần phải được bố trí một cách hợp lý ở một nơi khác trong cấu trúc nhà nước. Còn hoạt động giám sát việc tuân theo pháp luật cần phải được thực hiện hiệu quả bởi các cơ quan như các ủy ban của Quốc hội, các cơ quan thanh tra, điều tra của Chính phủ.

Một thời gian sau khi Viện kiểm sát không còn đảm nhiệm chức năng kiểm sát văn bản, chức năng này đã được chuyển giao cho Bộ Tư pháp. Đây là một sự bố trí không hợp lý và chính điều này dẫn đến tình trạng văn bản pháp luật của địa phương ban hành trái với trung ương. Sự bất hợp lý nằm ở chỗ bố trí một quyền thuộc địa hạt tư pháp trong lĩnh vực hành pháp. Chức năng kiểm sát văn bản của Viện kiểm sát ở Việt Nam trước đây có phần tương hợp với chức năng bảo hiến của các tòa án ở phương Tây. Điều này xuất phát từ một học lý rằng: kiểm sát, giám sát văn bản chính là quyền lực tư pháp của tòa án. Chức năng kiểm sát văn bản của tòa án được hình thành sớm nhất ở Mỹ năm 1803 sau phán quyết của Marsall đối với vụ án Mabury /Madison. Trong bản án này, Chánh án Marshall đã đưa ra một lời tuyên bố: “Thẩm quyền và nhiệm vụ minh bạch của ngành tư pháp là giải thích luật pháp. Toà án áp dụng luật vào những trường hợp riêng biệt nên phải minh giải pháp luật. Nếu hai luật chống nhau, toà án phải ấn định cách thi hành một luật. Nếu thông luật ngược với hiến luật, nếu cả thông luật và hiến luật cùng được áp dụng cho một trường hợp nhất định, Toà án phải phán quyết là nêu theo thông luật hay hiến luật. Đó là nhiệm vụ của tư pháp. Giả sử hiến pháp được kính trọng hơn thông luật của ngành lập pháp, thì hiến luật sẽ được áp dụng (7)’’.

Nói cách khác, bản chất của tư pháp là xét xử. Để xét xử, tòa án phải áp dụng pháp luật. Trong việc áp dụng pháp luật, nếu có hai văn bản nghịch nhau (văn bản nọ trái với văn bản kia) cùng liên quan đến một vụ việc, nhiệm vụ của tòa án phải lựa chọn một trong hai. Khi lựa, chọn tòa án phải tôn trọng nguyên tắc: văn bản nào ở hệ cấp pháp lý cao hơn phải có ưu thế được lựa chọn: hiến pháp của nhân dân cao hơn luật của người đại biểu nhân dân (Quốc hội – lập pháp), luật phải cao hơn pháp quy (các văn bản do ngành hành pháp, cơ quan chính quyền địa phương ban hành…). Khi Tòa án lựa chọn văn bản ở hệ cấp pháp lý cao hơn, điều này đồng nghĩa với việc tuyên bố văn bản ở hệ cấp pháp lý thấp hơn không có hiệu lực. Chính điều này hình thành nên chức năng kiểm tra, giám sát văn bản của Tòa án. Nói ngược lại, kiểm tra văn bản thuộc địa hạt quyền tư pháp của Tòa án.

Chuyển chức năng kiểm sát văn bản của Viện kiểm sát nhân dân sang cho Bộ Tư pháp có nghĩa là chức năng kiểm tra văn bản được bố trí trong ngành hành pháp. Điều này không phù hợp với lý thuyết của hiến pháp về các ngành quyền lực vốn được thừa nhận rộng rãi trên thế giới và cũng không phù hợp với thực tiễn. Thực tế, nhiều văn bản pháp quy bất hợp hiến, bất hợp pháp được ban hành nhưng chậm được phát hiện và xử lý. Vì Bộ Tư pháp không phải là cơ quan nằm ở vị trí tất yếu có thể đón nhận các văn bản bất hợp hiến, bất hợp pháp. Giả sử, một văn bản bất hợp hiến được ban hành, ví dụ một quyết định cấm bán hàng rong trong những tuyến phố nhất định của Uỷ ban nhân dân (UBND) một tỉnh X. Nếu văn bản này không gây thiệt hại gì, không ai nghi ngờ về tình hợp hiến của nó, điều này không cần phải kiểm tra. Việc kiểm tra văn bản chỉ được đặt ra khi có thiệt hại xảy ra và có người nghi ngờ thiệt hại đó là do văn bản đó bất hợp hiến. Chẳng hạn, đối với quyết định cấm bán hàng rong nói trên, có một công dân bán hàng rong nhận thấy nhiều gia đình nghèo bị hạn chế phương tiện mưu sinh do quyết định đó. Và sở dĩ họ bị hạn chế phương tiện mưu sinh là vì quyết định nói trên không tôn trọng quyền tự do kinh doanh của họ được bảo đảm trong điều 57 của Hiến pháp và đặt ra vấn đề tính tương hợp của Quyết định cấm bán hàng rong với điều 57 của Hiến pháp. Thực ra đây là một sự tranh chấp trong xã hội giữa UBND tỉnh X với công dân cho rằng, văn bản đó bất hợp hiến. Theo logic pháp lý thông thường, phải có một người thứ ba phân xử người công dân đúng hay UBND X đúng. Người thứ ba phải là người được trang bị thẩm quyền phân xử các tranh chấp trong xã hội, độc lập với cả hai bên, không phải là UBND, không phải là cơ quan hành pháp, mà là Tòa án. Nếu Tòa án cho rằng công dân đó đúng, quyết định cấm bán hang rong sẽ không có hiệu lực. Nếu Tòa án cho rằng UBND X đúng, công dân đó phải kiếm nghề khác để mưu sinh.

Qua vụ việc giả thuyết này, chúng tôi muốn tái khẳng định rằng kiểm tra văn bản là chức năng tự nhiên của Tòa án. Vì vậy, trao chức năng này cho Bộ Tư pháp là không đúng “địa chỉ”. Do đó, cần phải chuyển cho tòa án thực hiện chức năng giám sát văn bản bằng việc chấp nhận cho tòa án quyền phán quyết tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản pháp luật, không kể đó là văn bản cá biệt hay văn bản quy phạm.

Việc bỏ kiểm sát chung của Viện kiểm sát không gây ra tình trạng “cát cứ địa phương” như một số người quan niệm, nếu chúng ta biết giám sát chính quyền địa phương một cách hợp lý bằng tòa án. Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã và đang phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương, tạo sự năng động cho chính quyền địa phương. Sự giám sát địa phương bằng kiểm sát chung của Viện kiểm sát không thích hợp với điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Điều này có thể làm mất đi sự chủ động, sáng tạo của địa phương. Trong nền kinh tế thị trường, địa phương được hoạt động một cách sáng tạo trên cơ sở pháp luật và phạm vi đã được phân cấp. Nếu địa phương nhận thấy quyền lợi chính đáng của mình bị trung ương vi phạm, địa phương có quyền kiện ra Tòa án. Nếu địa phương vi phạm pháp luật, vi phạm ranh giới đã được phân cấp thì không phải bị xử lý đơn phương từ phía Viện kiểm sát theo cơ chế kiểm sát chung, mà phải được xử lý khách quan và công khai tại Tòa án. Do đó, nếu địa phương ban hành văn bản pháp luật bất hợp hiến, bất hợp pháp, điều này phải được xét xử tại tòa án. Như vậy sẽ dẫn đến hệ quả pháp lý: hoặc là tiếp tục duy trì hiệu lực của văn bản đó; hoặc là tuyên bố văn bản đó không có hiệu lực nếu bất hợp hiến, bất hợp pháp, và các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị xâm phạm do văn bản bất hợp hiến, bất hợp pháp, cần phải được khôi phục (8).

(còn tiếp)

 
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 12:54 PM | Số tin # 21
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
4. Chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố

Công việc chính của Viện kiểm sát hiện nay không phải là kiểm sát mà là công tố. Nghị quyết số 49-NQ/TƯ của Bộ Chính trị đặt ra vấn đề chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố. Như vậy, Viện kiểm sát sẽ không còn là một hệ thống độc lập với Quốc hội, Chính phủ, Tòa án như hiện nay nữa mà phải chuyển về một trong ba ngành quyền lực kia. Công tố không phải là làm luật, không phải là giám sát tối cao nên không thể nằm trong Quốc hội. Công tố là buộc tội. Tòa án là xét xử. Người buộc tội và người phán xử trong một hệ thống thì công lý sẽ không được bảo đảm. Mô hình Công tố trong Tòa án không phù hợp với yêu cầu bảo đảm công lý và quyền con người. Chỉ còn khả năng công tố sẽ nằm trong ngành hành pháp – Chính phủ. Điều này xuất phát từ một nguyên lý học thuật rằng, công tố chính là một bộ phận của quyền hành pháp.

Trong lý thuyết về hiến pháp, quyền hành pháp được hiểu là quyền hoạch định và điều hành chính sách quốc gia. Định nghĩa này nói lên hai bộ phận cấu thành của quyền hành pháp: hoạch định và điều hành. Ngành hành pháp (Chính phủ) trước tiên có nhiệm vụ hoạch định chính sách, chuyển chính sách đó thành các dự án luật rồi chuyển cho ngành lập pháp (Quốc hội) thông qua. Nếu ngành lập pháp thông qua, ngành hành pháp thực thi bộ phận thứ hai của quyền lực của mình: điều hành chính sách. Thực chất của bộ phận thứ hai này là Chính phủ điều hành việc thực thi các đạo luật trong cuộc sống. Để điều hành, Chính phủ có các công việc phải làm như: tổ chức bộ máy, nhân sự thực thi, chi tiết hóa chính sách (lập quy hướng dẫn thi hành luật), kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách. Chính phủ cũng phải có quá trình kiểm tra giám sát xem pháp luật, chính sách được thực thi như thế nào. Do đó, trong Chính phủ mới có các hoạt động như thanh tra, kiểm toán… Nếu như việc vi phạm pháp luật đến mức hình sự thì các hoạt động kiểm tra, giám sát của Chính phủ là điều tra, truy tố. Cơ quan thi hành pháp luật phải có quyền phát hiện chứng minh và đề nghị xử lý một hành vi vi phạm pháp luật. Do đó, công tố, tức đề nghị xử lý một hành vi vi phạm pháp luật được coi là tội phạm, thuộc chức năng của cơ quan hành pháp. Công tố đặt trong Chính phủ phù hợp với bản chất của quyền công tố cũng như bản chất của quyền hành pháp. Hành pháp là điều hành pháp luật trong cuộc sống. Thật vô lý nếu người điều hành pháp luật lại không có quyền đề nghị xử lý một người vi phạm pháp luật đến mức tội phạm. Không có quyền truy tố trong tay, ngành hành pháp khó có thể điều hành xã hội một cách trơn tru. Người điều hành pháp luật trong xã hội tất yếu phải có quyền đưa ra tòa một người vi phạm pháp luật (hình sự). Chính vì vậy, đa số các nước trên thế giới bố trí hoạt động công tố nằm trong cơ quan hành pháp: hoặc nằm trong Bộ Tư pháp như ở Mỹ, hoặc là môt Viện Công tố thuộc Chính phủ như một số nước Châu Âu.

Việt Nam nên đi theo mô hình Viện Công tố là một cơ quan có tư cách như một bộ nằm trong Chính phủ. Một truyền thống tổ chức cơ quan công tố độc lập gần 50 năm khó có thể thích hợp với việc chuyển cả một hệ thống đó thành chỉ là một Văn phòng công tố trong Bộ Tư pháp. Mô hình của Châu Âu đem lại những kinh nghiệm hữu ích cho Việt Nam bởi hệ thống pháp luật của Châu Âu có nhiều điểm tương thích với Việt Nam.

Cụ thể, Viện công tố sẽ được tổ chức căn cứ theo cấp xét xử của Tòa án trong tương lai chứ không căn cứ vào đơn vị hành chính như hiện nay. Viện trưởng Viện công tố trung ương được cử ra như cách thức cử ra một Bộ trưởng: do Thủ tướng giới thiệu trong cùng danh sách với các Bộ trưởng để Quốc hội phê chuẩn, sau đó Chủ tịch nước ra quyết định công bố. Các công tố viên của Viện công tố trung ương do Thủ tướng bổ nhiệm theo sự giới thiệu của Viện trưởng; nhân sự của Viện Công tố các cấp dưới trung ương do Viện trưởng Viện Công tố trung ương bổ nhiệm.

Để bảo đảm sự liên tục và sự chỉ đạo của cơ quan công tố đối với cơ quan điều tra, cơ quan điều tra nên được thành lập là một hệ thống dọc nằm trong Cơ quan công tố, đặt dưới sự chỉ đạo của cơ quan công tố. Điều này sẽ tránh được tình trạng, cơ quan điều tra yêu cầu truy tố về Tội “cố ý gây thương tích”; Cơ quan công tố lại nhận thấy có dấu hiệu của Tội “giết người”. Người thiệt thòi trong cuộc mâu thuẫn này không ai khác hơn là người dân bị tình nghi phạm tội. Sự kết nối giữa Cơ quan điều tra và công tố trong cùng một hệ thống sẽ tránh được tình trạnh án tồn đọng, án kéo dài, thời hạn tạm giam quá lâu, ảnh hưởng đến quyền lợi của bị can. Cơ quan thi hành án cũng nên nằm trong Viện công tố. Điều này bảo đảm được tính thống nhất của quá trình điều tra, truy tố và thi hành án.

Nếu chuyển Viện Kiểm sát thành Viện Công tố, Cơ quan điều tra và Cơ quan thi hành án nằm trong Viện Công tố, thì đương nhiên hoạt động điều tra và hoạt động thi hành án chịu sự giám sát của cơ quan công tố. Còn việc giám sát xét xử của cơ quan công tố là không cần thiết. Pháp quyền yêu cầu tòa án phải độc lập xét xử trên cơ sở của pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp. Có người viện dẫn đến nguyên tắc thống nhất quyền lực để yêu cầu Tòa án cũng phải chịu sự giám sát để bảo đảm quyền lực thống nhất. Như đã nói, vấn đề quyền lực nhà nước có thống nhất hay không chủ yếu liên quan đến việc thiết kế mối tương quan giữa Chính phủ và Quốc hội, không liên quan nhiều đến Tòa án. Việc tòa án độc lập xét xử không ảnh hưởng gì đến tính thống nhất của quyền lực bởi tòa án không phải là một định chế chính trị, mà là một định chế tư pháp. Với tư cách là một định chế tư pháp, tòa án giải quyết các tranh chấp phát sinh trong xã hội chứ không đưa ra các chính sách chính trị ảnh hưởng đến sự vận hành vĩ mô của quốc gia. Do đó, sự độc lập xét xử không ảnh hưởng đến tính thống nhất của cấu trúc quyền lực.

Lại có người cho rằng, vì tòa án hoạt động còn nhiều hạn chế, còn vi phạm pháp luật tố tụng, còn án oan, sai nên phải có sự giám sát xét xử từ phía cơ quan công tố. Bản thân Tòa án đã có cơ chế tự kiểm tra: phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Nếu Tòa án vi phạm pháp luật, người giám sát tòa án chính là những người tham gia tố tụng như các luật sư, bị cáo… Họ sẽ yêu cầu xem xét lại vụ án. Tòa án cấp trên cũng có quyền kháng nghị nếu Tòa án cấp dưới xử sai pháp luật. Hơn nữa, nếu Tòa án yếu kém thì phải đổi mới chính bản thân hệ thống tòa án chứ không phải vì vậy mà cần đến một cơ quan bên ngoài Tòa án để giám sát hoạt động xét xử của tòa án. Việc đổi mới chính bản thân hệ thống tòa án có nhiều nội dung, nhưng quan trọng nhất là đổi mới đội ngũ Thẩm phán. Thẩm phán là người giải quyết các tranh chấp trong xã hội nên phải là người vừa am hiểu pháp luật, vừa am hiểu về các tranh chấp trong xã hội và bản thân xã hội. Do đó, Thẩm phán nên được tuyển chọn từ đội ngũ Luật sư thay vì từ đội ngũ thư ký tòa án như hiện nay.

Chú thích:

(1) Cụ thể, xem tác phẩm “Nội chiến ở Pháp” của C. Mác in trong Mác và Ăng -ghen, Tuyển tập, tập IV. Nxb. Sự thật, H, 1982, tr. 57-130; tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” của Lênin in Trong Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb. Tiến bộ Mat -xcơ-va. 1976.

(2) Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà nội. Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật. Nxb. Đại học quốc gia Hà nội, H, 2001, tr. 354.

(3) Nguyễn Thái Phúc. Một số ý kiến về nghiên cứu chuyển đổi Viện kiểm sát thành Viện công tố trong bối cảnh Cải cách tư pháp ở nước ta. Tài liệu Hội thảo “Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp” do Viện kiểm sát nhân dân tối cao và UNDP, Dự án VIE /02/05 tổ chức, ngày 4-5/9/2008, tr. 17.

(4) Đối tượng kiểm sát chung của Viện Kiểm sát là từ Bộ trở xuống.

(5) Nói chung, tư pháp chỉ giải quyết những sự vụ, không có vai trò hoạch định chính sách, nên không phải là một định chế chính trị. Do đó, vấn đề thống nhất quyền lực không liên quan nhiều đến cơ quan này.

(6) Lênin Toàn tập 33, Nxb. Tiến bộ, Mát -xcơ-va, 1976, tr. 57.

(7) K.C. Wheare. Mordern constitutions. Oxford Uniersity Press, London, 1962.

(8) Sự kiểm sát văn bản của Bộ tư pháp không thể dẫn đến những hậu quả pháp lý này.

- Nguồn: http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_p...sat-o-viet-nam -
__________________

 
wanwelunThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 2:39 PM | Số tin # 22
Major
Nhóm: Administrators
Bài viết: 91
Phần thưởng: 12
Đẳng cấp: 0
Trạng thái: Rời mạng
a hoanglaota nên gom vô file để a e dể in, dễ tham khảo !

đưa kiểu này khó wá.... khó in ra đem đi thi ah, tại vì fải cắt chép vô rồi mới in được. Hic

cry : cắt nãy giờ mệt bở hơi luôn

cry : đuối

cry : đuối lắm


Trên đời, có nhiều thứ quý hơn tiền, song lại được mua bằng tiền

 
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 2:51 PM | Số tin # 23
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
Vấn đề quyền dân tộc cơ bản trong Hiến pháp Việt Nam

Những gì phải đánh đổi bằng mồ hôi, xương máu mới có được thì sẽ luôn được trân trọng, giữ gìn và bảo vệ. Đây hẳn là một chân lý mà không ai có thể phủ nhận được. Trong tiến trình lịch sử loài người, có không ít dân tộc hoặc vì bé nhỏ, hoặc vì yếu kém chậm phát triển mà mà bị những dân tộc lớn mạnh hơn áp bức, nô dịch. Để giành được độc lập, chủ quyền, họ đã phải trải qua cuộc đấu tranh bền bỉ và gian khổ, bởi vậy, đối với họ, Hiến pháp được xem như là một thứ vũ khí công hiệu nhất hỗ trợ họ trong việc khẳng định với thế giới các quyền dân tộc cơ bản mà họ xứng đáng được hưởng. Lịch sử là một minh chứng hùng hồn cho luận điểm trên.

Lịch sử lập hiến Việt Nam trải qua bốn bản Hiến pháp: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp 1992(sửa đổi, bổ sung năm 2001). Từ Hiến pháp năm 1946, vấn đề quyền dân tộc cơ bản đã được thể chế hóa thành một điều luật và được kế thừa và phát triển qua qua các bản Hiến pháp (HP) 1959, 1980 và đặc biệt đến HP 1992, vấn đề quyền dân tộc cơ bản đã được hoàn thiện tới mức tối ưu.

1. Quyền dân tộc cơ bản là gì? Gồm những yếu tố nào?

Quyền dân tộc cơ bản là những quyền cơ bản nhất, đồng thời cũng là cơ sở tối thiểu để bảo đảm cho một dân tộc tồn tại và phát triển bình thường, là cơ sở để dân tộc đó thực hiện các quyền khác của mình.

Quyền dân tộc cơ bản thông thường bao gồm bốn yếu tố: độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

- Độc lập: Tức là nhà nước đó phải tự định đoạt vận mệnh dân tộc mình mà không bị lệ thuộc vào sự can thiệp của nước ngoài nào; không có quân đội nước ngoài đóng trên lãnh thổ; đó phải là một nhà nước có chủ quyền, có nhân dân và có lãnh thổ riêng.

- Có chủ quyền: Nhà nước có chủ quyền là nhà nước có quyền tự quyết riêng về đối nội, đối ngoại, chiến tranh – hòa bình của quốc gia mình.

- Thống nhất: Thống nhất ở đây là thống nhất về tổ chức chính quyền nhân dân từ trung ương đến địa phương, về hệ thống pháp luật, về lãnh thổ,…

- Toàn vẹn lãnh thổ: một nhà nước có chủ quyền, thống nhất không bị chia cắt về lãnh thổ: đất liền, các hải đảo, vùng biển, vùng trời.(nếu quốc gia đó có tất cả 4 thành phần này).

Các yếu tố của quyền dân tộc cơ bản luôn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó, độc lập là yếu tố quan trọng nhất vì nó là cơ sở, nền tảng, quyết định các yếu tố còn lại: có độc lập thì mới có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

2. Vấn đề quyền dân tộc cơ bản qua bốn bản HP Việt Nam – Những điểm kế thừa và phát triển.

HP 1946 gồm “Lời nói đầu”, 7 chương với 70 điều. Trong đó vấn đề quyền dân tộc cơ bản được quy định trong Điều 2 Chương I: “Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia”. Xuất phát từ hoàn cảnh chính quyền nhân dân mới thành lập còn non trẻ, lại gặp vô vàn khó khăn về nhiều mặt, đây không đơn thuần là một quy định mà còn là sự khẳng định, một lời cáo hùng hồn: Cả ba miền Trung Nam Bắc đều là máu, là thịt của Việt Nam, không thể phân chia. Đồng thời cũng là sự cảnh cáo nghiêm khắc đối với những kẻ thù đang có âm mưu, dã tâm thực hiện ý đồ “chia để trị” hòng nuốt dần từng mảnh đất nước chủ quyền Việt Nam.

Đến HP 1959, vấn đè quyền dân tộc cơ bản đã được đưa lên Điều 1 Chương I: “Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất không thể chia cắt”. Hơn nữa, ngay dòng đầu tiên “Lời nói đầu” của HP đã trịnh trọng tuyên bố “Nước Việt Nam ta là một nước thống nhất từ Lạng Sơn đến Cà Mau”.Điều này không hề ngẫu nhiên, vì đối với nước ta vào thời điểm HP 1959 ra đời, tình trạng đất nước bị chia cắt không còn là âm mưu mà đã trở thành thực tế, bởi kẻ thù đang nuôi tham vọng hợp thức hóa sự chia cắt đó một cách vĩnh viễn bằng cách biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới. Nhiệm vụ hàng đầu của Cách mạng Việt Nam bấy giờ được Đảng xác định là xây dựng chủ nghĩa xã hôi ở Miền Bắc và đấu tranh giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, giang sơn thu về một mối.

Ở HP 1980 và HP 1992 vẫn tại Điều 1 của chương I, có sự kế thừa quy định của hai HP trước nhưng hoàn thiện hơn và trong điều kiện lịch sử mới đã có cách thể hiện mới. Điều 1 HP 1980 quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc bao gồm đất liền, vùng trời, vùng biển và các hải đảo.” Ở Điều 1 Hp 1992 có sự thay đổi vị trí giữa các từ ngữ: “ Nước Cộng hòa XHCNVN là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời”. Đây không chỉ là một quy định dù là ở tầm đạo luật cơ bản của một nhà nước mà đã trở thành một thực tế hiển nhiên, điều mà 26 năm trước đó, năm 1954 bằng Hiệp định Giơnevơ chỉ mới được thừa nhận trên văn bản của một điều ước quốc tế; mà còn là sự tổng kết lịch sử thành quả vĩ đại của cuộc đấu tranh lâu dài, bất khuất của nhiều thế hệ người Việt Nam kéo dài gần trọn 100 năm vì các quyền dân tộc cơ bản. Đồng thời, Điều 1 của 2 bản HP này vẫn là tuyên ngôn của nhân dân và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam về sự thật không thể phủ nhận về sự tồn tại của các quyền dân tộc cơ bản mà nhân dân Việt Nam đã giành lại được. Đó cũng là biểu thị của của ý chí, sự quyết tâm của nhân dân Việt Nam luôn sẵn sàng bảo vệ thành quả thiêng liêng không cho phép bất kì ai xâm phạm.

Từ những trình bày sơ lược ở trên, tôi sẽ đi phân tích để làm rõ sự kế thừa và phát triển của các quyền dân tộc cơ bản qua bốn bản HPVN.

* Sự kế thừa:

Ta có thể thấy rõ một điều là thống nhất về lãnh thổ là yếu tố được kế thừa qua 4 bản HP. Ở HP 1946: “Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia”, ở HP 1959: “Đất nước VN là một khối thống nhất, không thể chia cắt”, ở HP 1980 và HP 1992 là “Nước CHXHCNVN là….”. Mỗi bản HP ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử khác nhau nên mang một sứ mệnh lịch sử khác nhau. Hai bản HP 1946 và 1959 ra đời trong khi đất nước bị chia cắt, nhiệm vụ hàng đầu của dân tộc VN lúc bấy giờ là hoàn thành Cách mạng Dân tộc dân chủ nhân dân đánh đuổi thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. HP 1980 và HP 1992 ra đời trong bối cảnh đất nước hòa bình, nhiệm vụ đặt ra là thúc đẩy xây dựng Xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc trên phạm vi cả nước, yếu tố thống nhất đước ấn định để khẳng định với thế giới rằng: Việt Nam đã và mãi mãi là một khối thống nhất vững mạnh.

* Sự phát triển:

Sự phát triển của các quyền dân tộc cơ bản được thể biện ở cả nội dung và hình thức.

- Về hình thức: Vấn đề quyền dân tộc cơ bản đều được đề cập ở nhưng điều đầu tiên của chương I trong các bản HP. Tuy nhiên, ở Hp 1946, nó mới chỉ được quy định ở Điều 2, đến các HP 1969, 1980, 1992 thì đã được dưa lên ở Điều 1. Việc này phản ánh tầm quan trọng của quy định, đồng thời thể hiện sự quan tâm của Nhà nước và Pháp luật tới vấn đề đó.

- Về nội dung: Từ Hp 1946 đến HP 1980, nội dung quyền dân tộc cơ bản đã có sự phát triển hoàn thiện dần. Điều 1 HP 1980 đã đề cập đầy đủ 4 yếu tố của quyền dân tộc cơ bản, đó là độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; trong đó có nêu ra các bộ phận cấu thành lãnh thổ: đất liền, vùng trời, vùng biển và các hải đảo.

Ở HP 1992, vấn đề quyền dân tộc cơ bản được kế thừa gần như trọn vẹn HP 1980, khẳng định quan điểm của VN về các quyền dân tộc cơ bản, về lãnh thổ và biên giới quốc gia. Đặc biệt, ta nhận thấy có sự tráo đổi vị trí của các bộ phận cấu thành lãnh thổ: “ Nước CHXHCNVN là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời.” Đây không đơn giản chỉ là sự thay đổi về mặt cơ học mà nó bao hàm một ý nghĩa sâu xa, đó là mối liên hệ, gắn kết bền chặt giữa các bộ phận. Ta có thể lí giải điều này như sau: thứ nhất, về mặt tự nhiên khách quan, các hải đảo phải luôn gắn với đất liền; thứ 2, xuất phát từ tình hình thực tế của đất nước: bắt đầu từ năm 1974 trở đi, Trung Quốc có sự tranh chấp với nước ta trong vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, cho nên bằng việc đưa “các hải đảo” đứng sau “đất liền”, VN đã khẳng định chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa; thứ 3, sự thay đổi này cũng thể hiện kỹ thuật lập pháp của các nhà làm luật nước ta ngày càng tiến bộ, sử dụng ngôn từ hết sức chính xác, lôgic, chứa đựng ý nghĩa lớn lao, bởi nếu theo HP 1980, là "đất liền, vùng trời, vùng biển và các hải đảo", như vậy theo các nhà ngôn ngữ học, nếu viết như vậy sẽ có thể bị hiểu là "vùng trời" của nước ta sẽ chỉ gắn với phần đất liền chứ ko bao gồm cả "vùng trời" của biển khơi và các hải đảo (cái này có lần thầy Bảo dạy môn HP đã nói).

Tựu chung lại, xuất phát từ bài học giành độc lập đầy gian khổ và mất mát, trên cơ sở kế thừa và phát triển, các bản HP của Nhà nước ta đều khẳng định: Nhà nước Việt Nam là một nhà nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời. Dân tộc Việt Nam quyết đem “tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải” để giữ vững các quyền dân tộc cơ bản ấy.

(nguồn sinhvienluat.vn)

 
hoanglaotaThời gian: Thứ 4, 2010-03-17, 2:56 PM | Số tin # 24
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
Hệ thống chính trị nước CHXHCN Việt Nam

I. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam viết về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam : "Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp"

Thực tế, từ khi thành lập năm 1930 đến nay, ĐCS Việt Nam đã tổ chức và lãnh đạo xã hội thực hiện mọi thắng lợi của dân tộc Việt Nam. Năm 1945, ĐCS lãnh đạo nhân dân làm cuộc cách mạng tháng 8 chấm dứt ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân Pháp, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (là nước CHXHCN Việt Nam ngày nay). Năm 1954, sau 9 năm lãnh đạo cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp thắng lợi, Đảng đã giành sự kiểm soát hành chính trên một nửa nước Việt Nam. Từ năm 1954 đến 1975 ĐCS đã lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chế độ mới ở miền Bắc, thực hiện cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ trên cả nước và giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975, thống nhất đất nước năm 1976. Năm 1986 ĐCS đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc Đổi mới đạt được nhiều thắng lợi to lớn, sau 10 năm đã đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội, bước vào thời kỳ mớiđẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp vào năm 2020.

ĐCS Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Cơ quan quyền lực cao nhất là Đại hội toàn quốc 5 năm một lần. Đại hội bầu ra Ban chấp hành Trung ương. BCH TW bầu ra Bộ chính trị và Tổng Bí thư. Trước đây chức vụ cao nhất trong Đảng là Chủ tịch Đảng (do Hồ Chí Minh đảm nhận). Tổng Bí thư đầu tiên của ĐCS Việt Nam là ông Trần Phú. Tổng Bí thư hiện nay là ông Nông Đức Mạnh. Mọi công dân Việt Nam nếu tự nguyện gia nhập ĐCS và nếu tổ chức Đảng thấy có đủ tiêu chuẩn thì sẽ làm lễ kết nạp. Tuy nhiên, người Đảng viên mới đó phải trải qua một thời kỳ thử thách, ít nhất là một năm, mới có quyền biểu quyết, bầu cử và ứng cử trong Đảng. ĐCS Việt Nam đã trải qua 10 lần đại hội. Đại hội X diễn ra vào tháng 4/2006. Hiện nay Đảng có hơn hai triệu đảng viên.

II. HỆ THỐNG NHÀ NƯỚC
1. Quốc hội:
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

a) Nhiệm vụ: Lập hiến, lập pháp; giám sát, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, những nguyên tắc chủ yếu của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.

b) Nhiệm kỳ của Quốc hội: 5 năm, hoạt động thông qua kỳ họp 1 năm 2 lần. Ngoài ra, nếu Ủy ban Thường vụ Quốc hội xét thấy cần thiết hoặc do yêu cầu của Chủ tịch nước, Thủ tướng hoặc 1/3 tổng số đại biểu thì Quốc hội sẽ họp đột xuất.

c) Đại biểu Quốc hội: Là công dân Việt Nam, từ 21 tuổi trở lên, có phẩm chất, trình độ, năng lực, được cử tri tín nhiệm bầu ra.
- Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ tham gia các kỳ họp Quốc hội, có quyền trình dự án luật, dự án pháp lệnh trước Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội, có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng và các thành viên Chính phủ, Chánh án Toà án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
- Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri.

d) Chủ tịch và Phó Chủ tịch Quốc hội: Là đại biểu Quốc hội do Quốc hội bầu ra vào kỳ họp đầu tiên của mỗi khóa Quốc hội. Các Phó Chủ tịch Quốc hội là người giúp việc cho Chủ tịch theo sự phân công của Chủ tịch.

e) Ủy ban thường vụ Quốc hội: Là cơ quan thường trực giữa hai kỳ họp của Quốc hội.
- Có quyền về hoạt động giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ; giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án Tối cao, Viện Kiểm sát tối cao.
- Chuyên ban hành Pháp lệnh, Nghị quyết, giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.

g) Hai hội đồng của Quốc hội là: Hội đồng Quốc phòng-An ninh do Chủ tịch nước làm Chủ tịch, Thủ tướng làm Phó chủ tịch và 4 ủy viên. Hội đồng Dân tộc gồm 1 Chủ tịch và 38 thành viên.

h) Ủy ban chức năng của Quốc hội: Gồm các Ủy ban Pháp luật; Ủy ban Tư pháp; Ủy ban Kinh tế, Ủy ban Tài chính và Ngân sách; Ủy ban Quốc phòng và An ninh; Ủy ban Văn hóa, Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng; Ủy ban Các vấn đề xã hội; Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường; Ủy ban Đối ngoại. Ngoài ra lúc cần thiết Quốc hội có thể thành lập Ủy ban lâm thời.

2. Chủ tịch nước:
Là người đứng đầu Nhà nước, được Quốc hội bầu từ các đại biểu Quốc hội để thay mặt nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam về mặt đối nội và đối ngoại.

Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam ghi rõ Chủ tịch nước có 12 quyền hạn, trong đó quan trọng nhất là:
- Công bố hiến pháp, luật, pháp lệnh.
- Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh.
- Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm Phó chủ tịch nước, Thủ tướng, Chánh án Toà án tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao.

Giúp việc Chủ tịch nước có: Phó Chủ tịch nước, Hội đồng Quốc phòng và An ninh, Văn phòng Chủ tịch nước.

+ Phó Chủ tịch nước: Do Chủ tịch nước đề nghị, Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội; Phó Chủ tịch giúp Chủ tịch nước làm nhiệm vụ và có thể được Chủ tịch ủy quyền làm một số nhiệm vụ hoặc làm quyền Chủ tịch.

+ Hội đồng Quốc phòng và An ninh: Có nhiệm vụ động viên mọi lực lượng và khả năng của nước nhà để bảo vệ Tổ quốc. Hội đồng Quốc phòng và An ninh do Chủ tịch nước đứng đầu gồm Phó Chủ tịch nước và các thành viên do Chủ tịch nước giới thiệu và Quốc hội bỏ phiếu phê chuẩn.

3. Chính phủ:
- Là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Chính phủ chịu sự giám sát và thực hiện chế độ báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước.
- Chính phủ gồm: Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
- Thủ tướng do Chủ tịch nước giới thiệu, Quốc hội bầu ra và bãi miễn trong số các đại biểu Quốc hội nhiệm kỳ 5 năm.
- Các Phó Thủ tướng do Thủ tướng đề nghị Quốc hội phê chuẩn, là người giúp việc cho Thủ tướng và được Thủ tướng ủy nhiệm khi Thủ tướng vắng mặt.
- Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ do Thủ tướng đề nghị Quốc hội phê chẩn, đảm nhiệm chức năng quản lý Nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác được giao.

4. Toà án Nhân dân tối cao:
- Là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Gồm Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, hội thẩm, thư ký toà án.
- Cơ cấu gồm: Hội đồng Thẩm phán, Ủy ban Thẩm phán, Toà án Quân sự Trung ương và các toà Hình sự, toà Dân sự, toà Phúc thẩm, bộ máy giúp việc.
- Nhiệm kỳ là 5 năm.
- Chánh án Toà án Nhân dân tối cao do Quốc hội bầu và bãi miễn; Phó Chánh án, Thẩm phán do Chủ tịch nước bổ nhiệm, bãi miễn theo đề nghị của Chánh án. Hội thẩm nhân dân Toà án tối cao do Ủy ban Thường vụ Quốc hội cử theo sự giới thiệu của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Xét xử công khai, độc lập, chỉ tuân theo pháp luật.
- Xét xử tập thể, có hội thẩm nhân dân tham gia, quyết định theo đa số.
- Đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật, bị cáo được quyền mời luật sư bào chữa, quyền được dùng tiếng nói, chữ viết riêng.
...

5. Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao:
Kiểm sát các hoạt động Tư pháp; thực hành quyền công tố bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Nhiệm kì 5 năm (theo nhiệm kì của Quốc hội)

Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao gồm:
+ Viện trưởng: do Chủ tịch nước đề nghị, Quốc hội bầu và bãi miễn.
+ Các Viện phó, các kiểm sát viên và các điều tra viên: do Chủ tịch nước bổ nhiệm và bãi miễn theo đề nghị của Viện trưởng.

6. Tổ chức bộ máy cấp địa phương:

a) Hội đồng nhân dân:
- Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- Hội đồng nhân dân huyện.
- Hội đồng nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận.
- Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn.

b) Ủy ban nhân dân:
- Tỉnh và cấp tương đương: gồm các sở, các ủy ban, các cơ quan khác thuộc Ủy ban nhân dân và văn phòng Ủy ban nhân dân.
- Huyện và cấp tương đương: gồm các phòng, ban, các cơ quan khác thuộc Ủy ban nhân dân và văn phòng Ủy ban nhân dân.
- Xã và cấp tương đương: các ban và văn phòng.

c) Toà án nhân dân địa phương:
- Toà án tỉnh và cấp tương đương.
- Toà án nhân dân huyện.

d) Viện kiểm soát nhân dân địa phương: Gồm cấp tỉnh và huyện.

III. MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nước.

Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả.

IV. CÔNG ĐOÀN
Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, Công đoàn chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế; giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

V. CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI KHÁC
Ngoài Mặt trận Tổ quốc và Công đoàn, ở Việt Nam hiện đang tồn tại một số tổ chức chính trị, xã hội khác như: Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, các hiệp hội theo ngành nghề. Các tổ chức này đã đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp giải phóng đất nước. Trong công cuộc Đổi mới và công nghiệp hoá, hiện đại hoá, các tổ chức xã hội này đang góp phần quan trọng đưa các chính sách của Đảng và Chính phủ Việt Nam vào cuộc sống.

(Nguồn sinhvienluat.vn)

Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Thứ 4, 2010-03-17, 2:57 PM
 
hoanglaotaThời gian: Thứ 5, 2010-03-18, 7:57 AM | Số tin # 25
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
Tên của các Thành viên trong Chính Phủ

CHÍNH PHỦ VIỆT NAM 2007-2011

Thủ tướng: Nguyễn Tấn Dũng

Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Gia Khiêm

Phó Thủ tướng: Trương Vĩnh Trọng

Phó Thủ tướng: Hoàng Trung Hải

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo: Nguyễn Thiện Nhân

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Phùng Quang Thanh

Bộ trưởng Bộ Công an: Lê Hồng Anh

Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Trần Văn Tuấn

Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Hà Hùng Cường

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Võ Hồng Phúc

Bộ trưởng Bộ Tài chính: Vũ Văn Ninh

Bộ trưởng Bộ Công thương: Vũ Huy Hoàng

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Cao Đức Phát

Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải: Hồ Nghĩa Dũng

Bộ trưởng Bộ Xây dựng: Nguyễn Hồng Quân

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường: Phạm Khôi Nguyên

Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông: Lê Doãn Hợp

Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh Xã hội: Nguyễn Thị Kim Ngân

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Hoàng Tuấn Anh

Bộ trưởng Bộ Khoa học-Công nghệ: Hoàng Văn Phong

Bộ trưởng Bộ Y tế: Nguyễn Quốc Triệu

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc: Giàng Seo Phử

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: Nguyễn Văn Giàu

Tổng Thanh tra Chính phủ: Trần Văn Truyền

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ: Nguyễn Xuân Phúc

wink wink wink

 
hoanglaotaThời gian: Thứ 5, 2010-03-18, 8:06 AM | Số tin # 26
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

1. ĐỊA VỊ PHÁP LÝ
* HP 1946
- Điều 58: Ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã có Hội đồng nhân dân do đầu phiếu phổ thông và trực tiếp bầu ra.Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố, thị xã hay xã cử ra Uỷ ban hành chính.
- Điều 59: Hội đồng nhân dân quyết nghị về những vấn đề thuộc địa phương mình. Những nghị quyết ấy không được trái với chỉ thị của các cấp trên.

* HP 1959
- Điều 80: Hội đồng Nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương. Hội đồng Nhân dân các cấp do nhân dân địa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương
- Điều 92: Tổ chức Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Hành chính ở các khu vực tự trị phải căn cứ vào những nguyên tắc cơ bản về tổ chức Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Hành chính các cấp quy định ở trên.

* HP 1980
- Điều 114: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và chính quyền cấp trên.

* HP1992
- Điều 119: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên.

==> HP 1946 mới chỉ quy định về cách thức thành lập và nhiệm vụ cơ bản, chưa quy định một vị trí pháp lý cụ thể của HĐND.

==> HP1959 HĐND được coi là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương nhưng chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương. HP 1959 dành riêng 1 phần trong chương VII về Hội đồng nhân dân và UB hành chính địa phương để quy định về HDND và UB hành chính ở khu vực tự trị. (Chính sách lập khu vực tự trị của các dân tộc ở những vùng có điều kiện theo nghị quyết của Quốc hội, ngày 29 tháng 4 năm 1955

==> HP 80 HDND được quy định thêm việc phải chịu trách nhiệm trước các cơ quan cấp trên

==> HP 92 HDND không thay đổi nhiều so với 80 chỉ cụ thể hóa thêm tính đại diện của HDND cho nhân dân (đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân)
==> Theo HP 1992: Hội đồng nhân dân
+ Cơ quan đại biểu của nhân dân:
O Do nhân dân bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo nguyên tắc phổ thông bình đẳng trực tiếp và bỏ phiếu kín.
O Là cơ quan gần gũi nhân dân, hiểu rõ tâm tư nguyện vọng và yêu cầu của nhân dân, nắm vững đặc điểm địa phương.
O Mang tính chất quần chúng, bao gồm đại biểu của mọi tầng lớp nhân dân, dân tộc, tôn giáo…
--> Khác các nước tư sản HĐND địa phương không thuộc cơ quan đại biểu của dân, chỉ có Quốc hội mới đại diện cho nhân dân
+ Cơ quan quyền lực nhà nước: thay mặt nhân dân địa phương sử dụng quyền lực nhà nước trong địa phương của mình

Mối quan hệ với các cơ quan:
* Với các cơ quan chủ quản cấp trên:
> HĐND và UBND thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình theo HP, luật và các văn bản của cơ quan NN cấp trên (điều 3)
> HĐND chịu sự giám sát và hướng dẫn hoạt động của UB Thường vụ Quốc hội, chịu sự hướng dẫn và kiểm tra của Chính phủ trong việc thực hiện các văn bản của cơ quan NN cấp trên theo quy định của UB thường vụ Quốc hội. (Điều 7)
> Theo luật tổ chức CP, TTCP có quyền: Đình chỉ việc thi hành những nghị quyết của HDND tỉnh, thành phố trực thuộc TW trái với HP, luật và các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị UBTVQH bãi bỏ.
> Những nghị quyết về các vấn đề mà pháp luật quy định thuộc quyền phê chuẩn của cấp trên thì trước khi ban hành phải được cấp trên phê chuẩn (Điều 10)

* Với UBND cùng cấp:
> UBND do H ĐND bầu, chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và các cơ quan NN cấp trên (Điều 2)  khác với các nước tư sản HĐND không bầu ra các cơ quan này mà do Chính phủ bổ nhiệm.
> UBND chịu trách nhiệm chấp hành nghị quyết của HĐND cùng cấp (điều 2)
> Các quyết định của UBND nếu không thích đáng, HDND có quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ. UBND có trách nhiệm báo cáo và cung cấp các tài liệu liên quan khi có sự yêu cầu của HDND

* Với các cơ quan cấp dưới
> Giải tán Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp khi Hội đồng nhân dân này làm thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của nhân dân.
Nghị quyết giải tán đó phải được sự phê chuẩn của Hội đồng nhân dân cấp trên trực tiếp trước khi thi hành. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương giải tán Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp phải được sự phê chuẩn của Hội đồng Nhà nước trước khi thi hành
> Giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp dưới; sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định không thích đáng của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp

* Với các cơ quan khác
> HĐND thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, TAND, Viện KSND cùng cấp, giám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan NN, tổ chức kinh tế, tổ chức XH, đơn vị vũ trang…( Điều 1)
Việc giám sát được quy định cụ thể trong chương 3 Luật tổ chức HĐND và UBND. Ví dụ điều 58:
HĐND giám sát thông qua các hoạt động sau đây:
+ Xem xét báo cáo công tác của thường trực HĐND,UBND,TAND,Viện KSND cùng cấp
+ Xem xét việc trả lời chất vấn của chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND, các thành viên khác của UBND, thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Viện trưởng viện KSND, chánh án tòa án nhân dân cùng cấp
+ Xem xét văn bản QPPL của UBND cùng cấp nghị quyết của HDND cấp dưới trực tiếp khi phát hiện có dấu hiệu trái với HP, luật, Nghị quyết của QH, pháp lệnh nghị quyết của UBTV Quốc hội, văn bản QPPL của cơ quan NN cấp trên và nghị quyết của HDND cùng cấp
+ Thành lập đoàn giám sát khi xét thấy cần thiết
+ Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HDND bầu
> Trong hoạt động của mình HDND phối hợp chặt chẽ với Ban thường trực UB MTTQ và các tổ chức thành viên của mặt trận các tổ chức xã hội khác chăm lo bảo vệ lợi ích của nhân dân. (Điều 9)
Mỗi năm hai lần vào giữa năm và cuối năm, Thường trực Hội đồng nhân dân thông báo bằng văn bản đến Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về tình hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp mình, nêu những kiến nghị với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Đại diện Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được mời dự kỳ họp thường lệ của Hội đồng nhân dân để thông báo về hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia xây dựng chính quyền, về những ý kiến, kiến nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp.

(Còn tiếp)
tải hết bài về tại đây

File đính kèm: MT_S_VN__V_HI_N.doc(64Kb)


Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Thứ 5, 2010-03-18, 8:11 AM
 
hoanglaotaThời gian: Thứ 5, 2010-03-18, 8:10 AM | Số tin # 27
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
(tiếp theo)

2. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN
Hội đồng nhân dân là cơ quan đại biểu của nhân dân địa phương, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân và cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân cùng với Quốc hội hợp thành hệ thống cơ quan nhà nước và là gốc của chính quyền nhân dân. Các cơ quan nhà nước khác đều do Quốc hội và Hội đồng nhân dân thành lập.
Khác với Quốc hội là cơ quan thay mặt toàn thể nhân dân cả nước, sử dụng quyền lực trên phạm vi toàn quốc, Hội đồng nhân dân thay mặt nhân dân địa phương sử dụng quyền lực nhà nước trong phạm vi địa phương mình.
Hội đồng nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính sau đây:
- Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh)
- Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện)
- Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã)

2.1. CHỨC NĂNG
Căn cứ vào những quy định của HP và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, có thể thấy 3 chức năng cơ bản nhất của Hội đồng nhân dân:

- Quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, như quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát triển tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, không ngừng cải hiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước.

- Bảo đảm thực hiện các quy định và quyết định của các cơ quan nhà nước cấp trên và trung ương ở địa phương.

- Thực hiện các quyền giám sát đối với các hoạt động của thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, giám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở các địa phương, giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hộ đồng nhân dân.

Các chức năng của Hội đồng nhân dân được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ và quyền hạn.

2.2. NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN

2.2.1. Trong lĩnh vực kinh tế> Quyết định quy hoạch, kế hoạch dài hạn và hàng năm về: phát triển kinh tế- xã hội, sử dụng đất đai, phát triển ngành, xây dựng và phát triển đô thị, nông thôn trong phạm vi quản lý.
> Quyết.định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới và cơ chế khuyến khích phát triển các ngành sản xuất, chuyển đồi cơ cấu kinh tế và phát triển các thành phần kinh tế ở địa phương.
> Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán, thu chi ngân sách địa phương và phàn bổ dự toán ngân sách cấp thành phố; phê chuẩn quyết toán và điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương,..quyết định các chủ trương, biện pháp triền khai và giám sát việc thực hiện ngân sách địa phương;
> Quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách ở đa phương theo quy định của Luật ngân sách; quyết định thu phí, lệ phí, các khoản đóng góp của nhân dân và mức huy động vốn theo quy định của Pháp luật, quyết định phương án quản lý, phát triển, sử dụng nguồn nhân lực ở địa phương và các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng, buôn lậu và gian lận thương mại.

2. 2.2. Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa, thông tin, TDTT.
> Quyết định chủ trương và biện pháp phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, văn hóa thông tin, TDTT, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện làm việc, sinh hoạt của người lao động, thực hiện phân bổ dân cư, tổ chức đời sống và quản lý dân cư.
> Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, dạy nghề, mạng lưới khám chữa bệnh;
> Quyết định các biện pháp đảm bảo cơ sở vật chất và điều kiện cho các hoạt động giáo dục và.đào tạo, văn hóa thông tin, TDTT, các biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở địa phương; biện pháp giáo dục, bảo vệ, chăm sóc thanh thiếu niên và nhi đồng, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, giáo dục truyền thống đạo đức, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc; các biện pháp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân, thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình; các biện pháp thực hiện chế độ chính sách đốt với các đối tượng thuộcdiện chính sách xã hội.

2.2.3. Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, tài nguyên và môi trường.
Quyết định các chủ trương và biện pháp phát triển khoa học, công nghệ và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống; các biện pháp quản lý và sử dụng đất đai, nguồn nước và tài nguyên trong lòng đất; các biện pháp bảo vệ môi trường, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai; các biện pháp thực hiện những quy định của pháp luật về tiêu chuẩn đo lường và chất lượng sản phẩm tại địa phương.

2.2.4. Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh trật tự an toàn xã hội.
Quyết định các biện pháp thực hiện kết hợp quốc phòng; an ninh với kinh tế và xây dựng lực lượng dự bị động viên ở địa phương; các biện pháp đảm bảo an ninh, trật tự, đảm bảo an toàn xã hội, phòng và chống tội phạm và các hnahf vi vi phạm pháp luật khác trên địa bàn.

2.2.5.Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và tôn giáo.
> Quyết định biệ pháp thực hiện chính sách dân tộc, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao dân trícuar đồng bào các dân tộc thiểu sô, bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng giưa các dân tộc, tăng cường đoàn kết toàn dân và tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc ở địa phương.
> Quyết định biện pháp thực hiện chính sách tôn giáo, quyền bình đẳng giữa các tôn giáo trước pháp luật; bảo đảm quyền tự dotins ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân ở địa phương theo quy định của pháp luật.

2.2.6. Trong lĩnh vực thi hành pháp luật.
> Quyết định biện pháp bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của mình ở địa phương.
> Quyết định biện pháp bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân.
> Quyết định biện pháp bảo vệ tài sản, lợi ích của nhà nước, bảo hộ tài sản của cơ quan , tổ chức, cac nhân ở địa phương.
> Quyết dịnh biện pháp bảo đảm việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật.

2.2.7. Trong lĩnh vực xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành chính.
> Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, ủy viên Thường trực HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khác của UBND, Trưởng, phó và ủy viên các ban của HĐND, Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân cùng cấp; bãi nhiệm đại biểu HĐND và chấp nhận việc đại biểu HĐND xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu;
> Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu.
> Phê chuẩn cơ cấu cơ quan chuyên môn của UBND cấp thành phố, quận, huyện; quyết định thành lập, sáp nhập, giải thể một số cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp; quyết định tổng biên chế sự sự nghiệp ở phương; thông qua tổng biên chế hành chính của địa phương trước khi trình cấp có thẩm quyền quyết định.
> Quyết định chính sách thu hút và một số chế độ khuyến khích đối với cán bộ công chức trên địa bàn phù...hợp với yêu cầu và khả năng ngân sách địa phương; quyết định số lượng và mức phụ cấp đối với cán bộ không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn trên cơ sở hướng dẫn của Chính phủ.
> Thông qua đề án thành lập mới , nhập , chia và điều chỉnh địa giới hành chính để đề nghị cấp trên quyết định; quyết định đặt tên, đổi tên đường phố, quảng trường, công trình công cộng ở địa phương theo quy định của pháp luật;
> Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định, chỉ thị trái pháp luật của UBND cùng cấp, Nghị quyết trái pháp luật của HĐND cấp quận, huyện.
> Giải tán HĐND cấp huyện và phê chuẩn Nghị quyết của HĐND cấp huyện về việc giải tán HĐND cấp xã trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật.

3. THÍ ĐIỂM BỎ HỘI ĐỒNG QUẬN, HUYỆN, PHƯỜNG

Theo Nghị quyết số 26 ngày 15/11/2008 của Quốc hội về thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường, từ ngày 25 tháng 4 năm 2009, việc thí điểm việc không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường đã được tiến hành tại 67 huyện, 32 quận và 483 phường thuộc 10 tỉnh, thành trong cả nước bao gồm: Lào Cai, Vĩnh Phúc, TP Hải Phòng, Nam Định, Quảng Trị, TP Đà Nẵng, Phú Yên, TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang. Đây là một chủ trương mới và táo bạo, nhận được sự ủng hộ của đa số đại biểu Quốc hội, tuy nhiên cũng còn tồn tại một số quan ngại. Vậy tại sao lại phải thí điểm bỏ hội đồng nhân dân quận, huyện, phường? Liệu đây có phải một chủ trương đúng đắn?

3.1. Tại sao phải thí điểm bỏ Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường
* Hoạt động của HĐND cấp huyện, phường trong thời gian qua nhìn chung đã khẳng định được vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân; thay mặt cho nhân dân thực hiện chức năng chủ yếu là quyết định những vấn đề KT-XH lớn ở địa phương và giám sát theo quy định của pháp luật. Sự hiện diện của HĐND địa phương trong hệ thống chính trị đã góp phần bảo đảm sự cân bằng cần thiết trong mối quan hệ giữa quyền lực và trách nhiệm của các cơ quan quản lý điều hành, cũng như hoạt động của các cơ quan tư pháp ở địa phương. Tuy nhiên, hiệu quả làm việc của HĐND quận, huyện, xã cũng bộc lộ rất nhiều hạn chế.

> Một người dân hiện có 4 người đại diện: đại biểu HĐND cấp xã, huyện, tỉnh, thành phố và đại biểu Quốc hội. Về hình thức, có nhiều người đại diện là tốt nhưng quá nhiều cấp đại diện lại dẫn đến bộ máy quá bộ máy cồng kềnh, không chỉ gây tốn kém vật chất và thời gian, mà hiệu quả cũng không cao vì phải chờ bàn ở HĐND cả 3 cấp, khiến cho quy trình thông qua các quyết sách phải trải qua nhiều khâu rườm rà. Ví dụ: - việc quyết ngân sách hàng năm. Quy trình là sau khi ngân sách tỉnh, thành phố đã được HĐND tỉnh, thành phố thông qua, đưa xuống quận, HĐND quận phải tổ chức họp để thông qua. Sau đó tiếp tục xuống phường họp HĐND để thông qua. Trong khi đó, những con số này đã được cấp tỉnh, thành phố phân bổ, chỉ định hết rồi nhưng vẫn cứ phải họp HĐND quận, phường trước ngày 31-12 hàng năm để cho đủ thủ tục.

> Đa số Nghị quyết, chương trình của HĐND cấp huyện, cấp xã chỉ đơn thuần cụ thể hóa nghị quyết của UBND tỉnh, thành phố.

> Có quá nhiều cơ quan giám sát thì trách nhiệm không rõ ràng. VD: dự án cải tạo kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè ( tp. Hồ Chí Minh) bị chậm trễ. Cả biểu Quốc hội giám sát, đại biểu TP, đại biểu quận, phường cùng giám sát .. nhưng vẫn không khắc phục được sai sót.
> Đại biểu HĐND hoạt động kiêm nhiệm và gần 2/3 đại biểu giữ một chức vụ chính quyền dẫn đến tình trạng họ tự giám sát hoạt động của chính mình => không đảm bảo khách quan.
> Việc sử dụng cán bộ bị lãng phí.

* HĐND cấp quận, huyện
- Mô hình chính quyền địa phương ở huyện chỉ có Ủy ban hành chính nay là UBND cũng được thực hiện từ năm 1945 đến năm 1962, nghĩa là có thời gian khá dài, nước ta cũng đã trải qua mô hình chính quyền địa phương không có HĐND cấp huyện. (Mô hình HĐND cấp huyện mới tồn tại khoảng 46 năm kể từ khi Chủ tịch Nước ban hành lệnh công bố Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 10.11.1962.)
- Cấp huyện là trung gian giữa cấp tỉnh và xã, là cấp nhận việc ở trên truyền xuống cấp xã => không gắn với cộng đồng, chỉ có chức năng cầu nối, truyền đạt lại chủ trương của cấp tỉnh, thành phố để cấp xã, phường thực hiện => tổ chức càng tinh gọn càng năng động, hiệu quả.
- Thực tế hiện nay, HĐND cấp huyện chỉ có ba đại biểu chuyên trách, còn lại là kiêm nhiệm nên ít đại biểu có nhiệt huyết. Nếu bỏ HĐND cấp quận, huyện thì việc sắp xếp nhân sự cũng không gặp khó khăn gì.
- Có địa phương như huyện đảo Hoàng Sa, việc tồn tại 1 HĐND cấp quận, huyện hoàn toàn là việc không cần thiết.
=> Bỏ HĐND cấp quận, huyện là phù hợp.

* HĐND cấp xã, phường
- Xã là một đơn vị mang tính tự nhiên, có truyền thống lâu đời, ở đó người dân gắn với chính quyền, dân được bàn và quyết những việc của họ. Ở xã cần phải tăng cường nhiều hình thức để dân trực tiếp làm chủ, phải đa dạng hóa hình thức làm chủ.
=> Không thể bỏ HĐND cấp xã.
- Bỏ HĐND cấp phường vì:
O Phường là một đơn vị nhân tạo ở thành phố không gắn với kết cấu dân cư như xã. Kết cấu dân cư, kinh tế ở phường hoàn toàn khác với của xã. Xã là một đơn vị kinh tế khá độc lập, người xã nào sản xuất ở đó, gắn ngay với lợi ích ở đó, chứ người phường này có thể làm ở phường kia, phường chỉ là nơi người ta cư trú sau giờ làm việc, còn hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa nhiều khi diễn ra ngoài phường. Nếu ở nông thôn, phát huy vai trò tự quản của cộng đồng làng-xã là trọng tâm thì ở đô thị lại lấy củng cố quản lý thống nhất, tập trung toàn thể khối đô thị làm đích ngắm.
O Tính chất kinh tế ở phường là lệ thuộc. Trong một đô thị, toàn bộ kết cấu hạ tầng cơ sở và hạ tầng kinh tế, văn hóa là thống nhất, liên thông từ trên xuống. => Công việc ở cấp phường chỉ mang tính đảm bảo trật tự, an toàn ở địa phương.
O Khi đã bỏ HĐND phường, cử tri vẫn có thể phản ánh ý kiến của mình thông qua hệ thống đại biểu HĐND cấp TP. Vì số lượng đại biểu HĐND TP được bố trí theo mật độ dân cư, cử tri vẫn tiếp cận để phản ánh được.

* Duy trì HĐND cấp tỉnh, thành phố, thị xã thuộc tỉnh và HĐND cấp thị trấn
- HĐND cấp tỉnh, thành phố - cấp đầu tiên của chính quyền địa phương - đại diện cho một tỉnh với đặc thù, truyền thống, văn hóa, đặc thù kinh tế riêng. Đây là một thực thể pháp lý có tính tự nhiên, hình thành lâu đời, do đó, cấp tỉnh phải có chính quyền hoàn thiện, bao gồm cả UBND và HĐND.
=> Không thể bỏ HĐND cấp tỉnh, thành phố.
- HĐND thị xã thuộc tỉnh là những đơn vị hành chính có tính độc lập tương đối cao nên cần tiếp tục duy trì.
- Cấp thị trấn có đặc điểm vừa là đô thị, vừa có nông thôn, tức là có đặc thù riêng nên cũng cần giữ HĐND.

3.2. Lợi ích từ việc thí điểm bỏ HĐND cấp quận, huyện, phường- Chính quyền thống nhất, tinh giản, xuyên suốt, đồng bộ, có sự phối hợp cao, tránh được sự cắt khúc trong quản lý đô thị.

- Tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của UBND cùng cấp. Khi đó các cơ quan hành chính thật sự chủ động trong thực hiện nhiệm vụ quản lý, điều hành nhằm nâng cao tính chủ động, sáng tạo, linh hoạt của các cơ quan này, nhất là ở cấp huyện, cấp xã; tăng tính tự chịu trách nhiệm của tập thể, cá nhân của cơ quan hành chính, tránh được tình trạng UBND cấp huyện, cấp xã chỉ đơn thuần thực hiện nghị quyết của HĐND cùng cấp và khi xảy ra sai phạm rất khó quy trách nhiệm cho họ.

- Có thêm đội ngũ cán bộ mới để bố trí lại, có thêm lực lượng để làm.

- Không phải thông qua hội họp như trước, một số nội dung được quyết định trực tiếp từ chính quyền địa phương, thời gian giải quyết sẽ nhanh hơn trước đây

- Tạo thêm kinh nghiệm thực tiễn cho việc nghiên cứu tổ chức lại chính quyền địa phương theo hướng giảm cấp trung gian, tinh gọn bộ máy và đặc biệt khắc phục sự trùng lặp về nhiệm vụ, chức năng của các cơ quan.

3.2. Những vấn đề có thể gặp phải khi thí điểm bỏ HĐND quận, huyện, phường
Quá trình hoạt động HĐND các cấp cũng có nhiều tác dụng nên không thể phủ nhận hoàn toàn vai trò của HĐND cấp quận, phường.

- Nội dung mà đề án nêu ra mặc dù thí điểm để rút kinh nghiệm nhưng lại chưa phù hợp Hiến pháp, chưa kể là thực hiện sẽ ảnh hưởng tới hàng loạt quan hệ pháp luật giữa các cơ quan, tổ chức ở địa phương. VD: Theo điều 123 của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam, UBND do HĐND địa phương bầu…

=> việc thực hiện thí điểm bỏ HĐND quận, huyện, phường sẽ trái với quy định của Hiến pháp. Tuy nhiên, đây là thực tế cuộc sống đặt ra, việc thực hiện thí điểm đề án chính là xử lý các vấn đề mà cuộc sống đặt ra nên cần thiết phải ủng hộ.
- Khi thí điểm bỏ HĐND cấp huyện, quyền và nhiệm vụ của HĐND sẽ chuyển giao cho UBND tỉnh, hay HĐND tỉnh hoặc phân cấp cho HĐND xã. => HĐND tỉnh sẽ phải quán xuyến nhiều hơn nhưng vấn đề là hoạt động chủ yếu của HĐND là tại 2 Kỳ họp một năm. Muốn giám sát thường xuyên thì phải tiến hành vào thời gian giữa 2 Kỳ họp. Nhưng theo Luật thì Thường trực HĐND không phải là một cơ quan, không được trao quyền đầy đủ và cũng chỉ hoạt động theo nhiệm kỳ thôi. Trong điều kiện hiện nay thì HĐND tỉnh không đủ sức để với xuống tận xã, phường được.

==> Khắc phục: HĐND tỉnh, thành phố cần phải có cán bộ toàn thời gian để chuyên tâm làm việc chứ không phải kiêm nhiệm quá nhiều thứ như hiện nay.

- Theo quy định hiện hành, HĐND huyện có nhiệm vụ chủ yếu là: phân bổ thu chi ngân sách, đầu tư xây dựng cơ bản, phát triển KT – XH hàng năm của huyện, …. Thực tế thì hầu hết chức năng quyết định này của HĐND huyện được thực hiện trên cơ sở căn cứ các quyết định của UBND tỉnh. => khi bỏ HĐND huyện thì những việc này phải được giao lại cho UBND tỉnh và UBND tỉnh sẽ thực hiện phân cấp cho UBND huyện theo quy định của pháp luật hoặc theo thẩm quyền. => sức ép và gánh nặng trách nhiệm sẽ đặt trên vai UBND tỉnh, đứng đầu là Chủ tịch UBND tỉnh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHỦ YẾU
1. Hiến pháp Việt Nam 1946, 1959, 1980, 1992.
2. Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, ĐH Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2007.
3. Nghị quyết số 26/2008/QH12 ngày 15/11/2008 của Quốc hội về thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường.

tải hết bài về tại đây

File đính kèm: MT_S_VN__V_HI_N.doc(64Kb)
 
hoanglaotaThời gian: Thứ 5, 2010-03-18, 8:14 AM | Số tin # 28
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
TẬP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Trong NN pháp quyền XHCN cũng có tổ chức các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng đó chỉ là sự phân công, phối hợp giữa các hoạt động chuyên trách trong bộ máy NN chứ không có sự phân quyền độc lập giữa các bộ phận ấy với nhau. Người ta nói đó là “tập quyền XHCN” chứ không phải là “tam quyền phân lập”.

NN XHCN đảm bảo sự tập trung thống nhất quyền lực. Thống nhất quyền lực NN được hiểu là toàn bộ quyền lực NN thuộc về nhân dân, tập trung thống nhất ở nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực NN thông qua cơ quan đại diện mà trước hết là cơ quan quyền lực NN cao nhất của đất nước (Quốc hội). Điều đó chỉ ra rằng: quyền lực NN dẫu là quyền lập pháp, hành pháp hay tư pháp đều có chung một nguồn gốc thống nhất là nhân dân, do nhân dân ủy quyền, giao quyền. Nói quyền lực NN thống nhất ở mục tiêu chính trị, nội dung chính trị của NN. Cả 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tuy có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau nhưng đều thống nhất ở mục tiêu chính trị chung (ở nước ta là xây dựng NN “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn mình” như Đảng ta đã chỉ ra).

Bộ máy NN XHCN được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực NN là thống nhất, không phân chia, nhưng lại có sự phân công rành mạch giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp: Quyền lập pháp là quyền đại diện cho nhân dân thể hiện ý chí cung của quốc gia. Những người được nhân dân giao cho quyền này là những người do phổ thông đầu phiếu bầu ra hợp thành cơ quan gọi là Quốc hội, Quốc hội là cơ quan duy nhất được nhân dân giao quyền biểu quyết thông qua luật. Quyền hành pháp là quyền tổ chức thực hiện ý chí chung của quốc gia do chính phủ đảm trách. Chính phủ tổ chức thực hiện pháp luật để đảm bảo an ninh, an toàn và phát triển xã hội. Quyền tư pháp là quyền xét xử, được nhân dân giao cho tòa án. Như vậy, xuất phát từ đặc điểm của quyền lực NN, việc phân công và phối hợp giữa các cơ quan NN trong 3 quyền nói trên là một nhu cầu khách quan, là cách thức tốt nhất để phát huy vai trò của NN trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Ý nghĩa của sự phân công quyền lực NN là để phân định nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy NN, kiểm soát quyền lực NN, đảm bảo cho tính pháp quyền của NN và phát huy dân chủ XHCN, để NN hoạt động có hiệu quả, quyền lực NN ngày càng thật sự là quyền lực của nhân dân.

Bộ máy NN XHCN có chức thống nhất quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bộ máy Này hợi thành từ nhiều cơ quan và tổ chức NN từ trung ương tới địa phương. Mỗi cơ quan, tổ chức có vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng hợp thành một thể thống nhất, hoạt động theo nguyên tắc chung, thực hiện các chức năng chung nằhm đạt được những mục tiêu thống nhất đặt ra trước NN.

Biểu hiện:

Biểu hiện cụ thể của phương thức tập quyền XHCN được thể hiện chủ yếu thông qua bộ máy NN XHCN mà cụ thể hơn là ở các loại cơ quan sau:

1/ Cơ quan quyền lực NN (hay hệ thống cơ quan đại diện): bao giờ Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Các cơ quan quyền lực NN do nhân dân trực tiếp bầu ra, nhân danh nhân dân để thực hiện và thực thi một cách thống nhất quyền lực, phải chịu trách nhiệm vào báo cáo trước nhân dân về mọi hoạt động của mình. Các cơ quan quyền lực hợp thành hệ thống “xương sống” của bộ máy NN. Ở nước ta, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và là cơ quan quyền lực NN cao nhất. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, quyết định những vấn đề trọng đại nhất của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của cơ quan NN. Trong cơ quan quyền lực cao nhất của NN XHCN còn có cơ quan thường trực như Ủy ban thường vụ Quốc hội (Việt Nam), Hội đồng Nhà nước (Cu-ba)… Cơ quan này do Quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội. Hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta là cơ quan quyền lực NN ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra, phải chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan NN cấp trên.

2/ Chủ tịch nước: là người đứng đầu NN, chủ tịch nước được trao nhiều quyền hạn rộng lớn trong cả 3 lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp, là người giữ quyền thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức vụ Chủ tịch hội đồng quốc phòng và an ninh. Chủ tịch nước có vị trí đặc biệt và giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phối hợp thống nhất giữa các bộ phận của bộ máy NN XHCN.

3/ Các cơ quan quản lý NN:
- Các cơ quan chấp hành và Hành chính NN: Hệ thống cơ quan quản lý NN ở nước ta gồm có:
Chính phủ: là cơ quan cao nhất trong hệ thống cơ quan quản lý NN. “Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của NN. Đảm bảo hiệu lực của bộ máy NN từ trung ương đến cơ sở. Đảm bảo việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật” (Trích điều 109 hiến pháp 1992).
Các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý NN đối với các ngành (nông nghiệp, công nghiệp, thương mại…) hoặc các lĩnh vực (kế hoạch, tài chính, lao động…).
UBND các cấp: thực hiện sử quản lý thống nhất mội mặt đời sống xã hội ở địa phương.
Các sở, phòng, ban chức năng của UBND là các cơ quan thực hiện chức năng quản lý chuyên môn trong phạm vi địa phương.
- Các cơ quan quốc phòng và an ninh: Thực hiện chức năng đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự xã hội, ổn định chính trị và các quyền tự do dân chủ của nhân dân. Ở nước ta, hệ thống cơ quan quốc phòng, an ninh gồm có: Hội đồng quốc phòng và an ninh, Bộ quốc phòng, Bộ công an và các cơ quan quốc phòng - an ninh địa phương. Hệ thống các cơ quan quốc phòng – an ninh là các cơ quan quản lý công tác quốc phòng – an ninh.

4/ Các cơ quan xét xử: trực thuộc cơ quan quyền lực NN, chịu trách nhiệm báo cáo trước cơ quan quyền lực NN nhưng trong hoạt động lại độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Ở nước ta, hệ thống cơ quan xét xử gồm có: Toàn án nhân dân tối cao, các tòa án nhân dân địa phương, các tòa án quân sự và các toàn án khác do luật định.
5/ Các cơ quan kiểm soát: được tổ chức ra không chỉ để thực hiện quyền công tố mà còn để kiếm soát các hoạt động tư pháp, góp phần đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Hệ thống cơ quan kiểm soát ở nước ta gồm có: Viện kiểm sát nhâ dân tối cao, các viện kiểm sát nhân dân địa phương và các viện kiểm sát quân sự.

Như vậy, tính tập quyền XHCN có thể nói được biểu hiện cụ thể nhất trong cơ cấu và cách thức tổ chức bộ máy NN XHCN (mà như trên là bộ máy NN CHXHCN Việt Nam).

Bộ máy NN XHCN được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc:
1/ Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của ĐCS đối với NN.
2/ Nguyên tắc đảm bảo sự tham gia đông đảo của nhân dân lao động vào công việc quản lý NN.
3/ Nguyên tắc tập trung dân chủ.
4/ Nguyên tắc pháp chế XHCN.

Ưu - Nhược:
Ưu: Quan niệm quyền lực NN là thống nhất là cách thức tổ chức quyền lực NN đề cao trách nhiệm trước nhân dân, hạn chế sự dựa dẫm, ỷ lại trong việc thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ mà nhân dân đã ủy quyền. Đó cũng là cơ sở để không có chỗ cho các yếu tố cực đoan, đối lập, thiếu trách nhiệm trong mối quan hệ giữa các quyền, nhất là giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp. Đồng thời, đó cũng là điều kiện để hình thành cơ chế kiểm soát, nhận xét, đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động của các quyền từ bên trong tổ chức quyền lực NN cũng như từ bên ngoài là nhân dân.
Nhược: Nếu nhìn nhận trên lý thuyết thì có thể thấy có rất ít nhược điểm hoặc không đáng kể, tuy nhiên thực tế lại khác rất nhiều.

 
hoanglaotaThời gian: Thứ 5, 2010-03-18, 8:22 AM | Số tin # 29
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

VŨ VĂN NHIÊM
ThS. Giảng viên Khoa Luật Hành chính, trường ĐH Luật TP. HCM

Tập trung dân chủ là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nguyên tắc này đã được ghi nhận tại Điều 4 Hiến pháp 1959, Điều 6 Hiến pháp 1980 và Điều 6 Hiến pháp 1992 “…Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”. Không những ở nước ta, các nước xã hội chủ nghĩa cũng ghi nhận nguyên tắc này trong Hiến pháp và cũng xác định là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước1.

Như vậy, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ phải là một hoạt động thường xuyên trong quá trình tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và của các cơ quan nhà nước nói riêng. Vấn đề đặt ra tưởng rằng như đơn giản nhưng hiện nay còn nhiều ý kiến chưa thống nhất, là: hiểu nội dung của nguyên tắc này như thế nào cho đúng?2.

Theo chúng tôi, hiện nay có ba loại ý kiến khác nhau về nguyên tắc này.

Loại ý kiến thứ nhất cho rằng nội dung của nguyên tắc này là sự kết hợp hai mặt tập trung và dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước. “Tập trung dân chủ là hai mặt của một thể thống nhất, không bao giờ được phép cường điệu hoặc coi nhẹ bất cứ mặt nào. Vì như vậy sẽ dẫn đến những hậu quả như: chuyên quyền, độc đoán, mất dân chủ, hạn chế tự do, sáng tạo, coi thường pháp luật v.v…”3. “Tập trung và dân chủ là hai mặt của một thể thống nhất kết hợp hài hòa với nhau. Nếu thiên về tập trung mà không chú trọng đến dân chủ sẽ dẫn đến tập trung quan liêu, độc đoán trái với bản chất của Nhà nước ta. Ngược lại, nếu thiên về dân chủ mà coi nhẹ tập trung sẽ dẫn đến dân chủ quá trớn làm cho hoạt động của bộ máy nhà nước kém hiệu quả”4. “Nghệ thuật của sự vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ là tìm tỷ lệ kết hợp tối ưu của hai mặt tập trung và dân chủ trong tổ chức và hoạt động của từng lĩnh vực, ngành cụ thể, trong từng giai đoạn, từng hoàn cảnh, thậm chí là từng vấn đề cụ thể”5. “Trong từng địa phương, từng thời điểm khác nhau cần định ra liều lượng kết hợp giữa những chế độ tập trung và chế độ dân chủ thích hợp tạo nên sự thống nhất hai mặt của nguyên tắc”6. “Nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là sự kết hợp biện chứng giữa hai mặt: tập trung (thống nhất) và dân chủ”7. “Nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện sự thống nhất biện chứng giữa chế độ tập trung và chế độ dân chủ. Do vậy, bất kỳ sự nhấn mạnh hay coi nhẹ một mặt nào của nguyên tắc này sẽ dẫn đến sự thiếu hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động của bộ máy nhà nước. Nếu quá tập trung sẽ dẫn đến tình trạng tập trung quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, phi dân chủ, còn nếu quá dân chủ sẽ dẫn đến tình trạng dân chủ quá trớn, lạm dụng dân chủ và vô chính phủ. Nói như vậy cũng không có nghĩa là chúng ta dàn đều cả hai nội dung tập trung và dân chủ”8.

Loại ý kiến thứ hai cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ là “sự” tập trung “một cách” dân chủ. Nguyên tắc này thể hiện sự tập trung trên cơ sở dân chủ chân chính, kết hợp sáng tạo với sự thực hiện, chấp hành nghiêm chỉnh và tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật cao. V.I. Lênin đã nhấn mạnh rằng, nguyên tắc tập trung dân chủ ở nghĩa chung nhất là: tập trung được hiểu ở nghĩa dân chủ thực sự9.

Ngoài ra, còn có loại ý kiến thứ ba cho rằng tập trung dân chủ là việc thủ trưởng có toàn quyền quyết định các vấn đề của cơ quan trên cơ sở đóng góp ý kiến của nhân viên. Hay nói một cách khác, việc đóng góp ý kiến của cán bộ, công nhân viên, các thành viên trong cơ quan, đơn vị chỉ có ý nghĩa tham khảo và việc quyết định thuộc thẩm quyền của thủ trưởng.

Như vậy, có thể thấy đa số các tác giả cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước là sự kết hợp giữa hai yếu tố (hai mặt) tập trung và dân chủ. Sự kết hợp giữa các mặt này là không giống nhau, điều đó phụ thuộc vào tính chất của các cơ quan, phụ thuộc vào trình độ quản lý, vào điều kiện cụ thể về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Chúng tôi cho rằng để hiểu một cách chính xác nội dung của nguyên tắc này, trước hết cần xem xét về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp của thuật ngữ này. Chúng tôi đồng ý với ý kiến cho rằng thuật ngữ “tập trung dân chủ” thì “tập trung” là danh từ, “dân chủ” là tính từ; tính từ bổ nghĩa cho danh từ10. Như vậy, “tập trung dân chủ” không phải là tập hợp của hai danh từ [cũng cần nhắc lại rằng Điều 6 Hiến pháp 1992 qui định “…Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước đều tổ chức va hoạt động theo “nguyên tắc tập trung dân chủ” chứ không phải là nguyên tắc tập trung, (phẩy) dân chủ hoặc cũng không phải là tập trung - (gạch ngang) dân chủ]11. Do đó, dễ dàng có thể nhận thấy rằng nội dung của nguyên tắc này không phải là hai vế, hai mặt của một vấn đề. Tập trung dân chủ là “tập trung” trên cơ sở “dân chủ” (tập trung một cách dân chủ).

Tập trung là một thuộc tính quản lý quan trọng của bất kỳ nhà nước nào, song nhà nước xã hội chủ nghĩa nói chung và nhà nước ta nói riêng không áp dụng sự tập trung độc đoán hay tập trung quan liêu mà là tập trung trên cơ sở dân chủ chân chính. Sự tập trung đó rất xa lạ với tập trung quan liêu, tách rời bộ máy nhà nước với nhân dân. Đúng như V.I.Lênin đã nhấn mạnh rằng, nguyên tắc tập trung dân chủ ở nghĩa chung nhất là: tập trung được hiểu ở nghĩa dân chủ thực sự. Tập trung trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước phải mang tính dân chủ chứ không phải tập trung độc đoán, tập trung quan liêu. Ngoài ra, cũng cần lưu ý rằng nguyên tắc này được Lênin nêu ra trước Cách mạng tháng 10 Nga trong bối cảnh nội bộ Đảng Cộng sản Nga xuất hiện nhiều tư tưởng có khuynh hướng cản trở việc thống nhất đường lối, thống nhất hành động cách mạng. Nội dung của nguyên tắc này, theo Lênin là thống nhất nhận thức, thống nhất hành động để giữ vững đường lối cách mạng và tiến hành cách mạng thắng lợi. Từ đó, nguyên tắc tập trung dân chủ được xác định là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Nga12.

Ở nước ta, nguyên tắc này không những được áp dụng trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước mà tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam và một số các tổ chức chính trị – xã hội cũng vận dụng nguyên tắc này13.

Bất kỳ xã hội và bất kỳ kiểu nhà nước nào, việc quản lý xã hội và thực hiện quyền lực nhà nước (quản lý nhà nước) đều phải có sự tập trung quyền lực. Đây là yếu tố bắt buộc và mang tính tất yếu nhằm điều khiển (quản lý) được toàn bộ các hoạt động xã hội, thiết lập và duy trì một trật tự xã hội phù hợp với ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị xã hội. Tuy nhiên, nội dung (tính chất) của sự tập trung trong các chế độ xã hội và chế độ nhà nước hoàn toàn không giống nhau. Điều đó trước hết phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội, chế độ nhà nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội. Trong xã hội phong kiến, quyền lực nhà nước tập trung trong tay giai cấp thống trị phong kiến mà đại diện là nhà vua; đặc biệt ở các nhà nước theo chính thể quân chủ chuyên chế, chế độ cai trị thể hiện sự độc đoán, chuyên quyền, phản dân chủ (hoặc có dân chủ nhưng rất hạn chế). Đến chế độ tư bản chủ nghĩa, tập trung, quan liêu là đặc trưng điển hình của việc tổ chức bộ máy nhà nước tư sản. Các cơ quan cai trị với những quan lại cai trị được bổ nhiệm từ trên xuống luôn kiêu căng, lấn át, xa rời thực tế; chỉ chịu trách nhiệm trước cấp trên mà không chịu trách nhiệm trước nhân dân và không chịu sự giám sát của nhân dân. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã kịch liệt phê phán cơ chế tập trung quan liêu đó. Đối với bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa thì một nguyên tắc mới đã được vận dụng, đó là nguyên tắc tập trung dân chủ. Nội dung của nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước có biểu hiện rất phong phú và đa dạng, nhưng thể hiện một cách khái quát ở việc phân công công việc, mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước (ở trung ương cũng như ở các cấp địa phương), sự phân cấp về thẩm quyền (nhiệm vụ, quyền hạn), mối quan hệ giữa trung ương với địa phương, giữa các cấp địa phương với nhau. Trong từng cơ quan nhà nước, những vấn đề nào do tập thể quyết định; những vấn đề nào do người đứng đầu quyết định; qui định cách thức quyết định những vấn đề đó.

Trên bình diện toàn bộ bộ máy nhà nước, nguyên tắc tập trung dân chủ được biểu hiện ở một số nội dung cơ bản:

- Toàn bộ các cơ quan nhà nước phải có một trung tâm quyền lực chỉ đạo một cách mạnh mẽ và thống nhất, mỗi cơ quan nhà nước đều có những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhất định. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

- Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Các cơ quan quyền lực nhà nước như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp phải do nhân dân bầu ra theo bốn nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín trên cơ sở dân chủ. Các đại biểu dân cử thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, nói lên tiếng nói và nguyện vọng của nhân dân, chịu sự giám sát chặt chẽ của nhân dân. Nếu không còn được sự tín nhiệm của nhân dân thì đại biểu dân cử có thể bị bãi nhiệm.

- Quốc hội có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước theo qui định của Hiến pháp và pháp luật, nhưng những vấn đề quan trọng nhất của đất nước trước khi quyết định phải lấy ý kiến của nhân dân hoặc phải do nhân dân trực tiếp quyết định thông qua việc trưng cầu ý kiến của nhân dân. Ở địa phương, những vấn đề quan trọng ở địa phương cần tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân thảo luận, đóng góp ý kiến hoặc trực tiếp quyết định.

- Trên cơ sở qui định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của mình và căn cứ vào đặc điểm, tình hình, lợi ích hợp lý của điạ phương (và cấp dưới), các cơ quan nhà nước trung ương (và cấp trên) có quyền quyết định đối với địa phương (và cấp dưới). Các cơ quan nhà nước địa phương (và cấp dưới) có quyền chủ động, sáng tạo trong việc thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước trung ương (và cấp trên) hoặc những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình, phù hợp với đặc điểm cụ thể của địa phương hoặc đơn vị mình, nhưng không được trái với các qui định của trung ương (và cấp trên ).

- Trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, phải phân định những vấn đề thuộc thẩm quyền tập thể, những nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của người đứng đầu. Những vấn đề thuộc thẩm quyền tập thể thì thiểu số phục tùng đa số nhưng thiểu số có quyền bảo lưu ý kiến, đa số cũng cần xem xét, tham khảo ý kiến của thiểu số để kiểm tra tính đúng đắn trong quyết định của mình. Những vấn đề cá nhân có quyền quyết định thì cá nhân phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

- Ủy ban nhân dân các cấp do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra (và do cấp trên phê chuẩn) và phải thực hiện các quyết nghị của cơ quan quyền lực, chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực cùng cấp.

Nguyên tắc tập trung dân chủ được vận dụng trong tổ chức và hoạt động trong các cơ quan nhà nước khác nhau thì khác nhau. Có thể phác họa hình thức thể hiện của nguyên tắc này trong từng loại cơ quan nhà nước như sau:

- Các cơ quan quyền lực nhà nước do nhân dân bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân. Các đại biểu dân cử có thể bị nhân dân bãi nhiệm nếu không còn sự tín nhiệm của nhân dân. Các văn bản của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp có giá trị bắt buộc đối với các cơ quan cùng cấp và cấp dưới. Tất cả các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đều được thảo luận một cách dân chủ, công khai trong các kỳ họp và quyết định theo đa số (trừ một số vấn đề đặc biệt được quyết định khi có ít nhất 2/3 tổng số đại biểu biểu quyết tán thành).

- Đối với cơ quan hành chính nhà nước nguyên tắc này thể hiện, Chính phủ do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm (đối với Thủ tướng), phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức (đối với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ) theo đề nghị của Thủ tướng, bỏ phiếu tín nhiệm đối với các thành viên của Chính phủ. Quốc hội thành lập, sáp nhập, giải thể các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt theo sự đề nghị của Thủ tướng (sau khi đã được tập thể Chính phủ quyết định). Chính phủ thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp và pháp luật qui định để thi hành Hiến pháp, luật và các nghị quyết của Quốc hội. Chính phủ thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số 8 nhóm vấn đề quan trọng14, trong trường hợp biểu quyết ngang nhau thì sẽ thực hiện theo ý kiến mà Thủ tướng đã biểu quyết. Thủ tướng có quyền quyết định cá nhân những vấn đề khác (Điều 20, Luật tổ chức Chính phủ 2001). Ủy ban nhân dân các cấp do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra. Người đứng đầu cơ quan hành chính cấp trên có quyền phê chuẩn nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp về việc bầu Ủy ban nhân dân; có quyền điều động, miễn nhiệm, cách chức đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch cơ quan hành chính cấp dưới trực tiếp; phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên khác của cơ quan hành chính cấp dưới trực tiếp. Ủy ban nhân dân thảo luận tập thể và quyết định theo đa số 6 nhóm vấn đề quan trọng15. Chủ tịch Ủy ban nhân dân quyết định những vấn đề còn lại thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân. Đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Các cơ quan thuộc Chính phủ làm việc theo chế độ thủ trưởng, bảo đảm tính dân chủ. Bộ trưởng có quyền quyết định các công việc thuộc phạm vi quản lý của Bộ và chịu trách nhiệm về các quyết định đó, Bộ trưởng chịu trách nhiệm về những công việc do Bộ trực tiếp quản lý, chịu trách nhiệm liên đới về những công việc đã phân cấp cho chính quyền địa phương nhưng do Bộ không thực hiện đầy đủ trách nhiệm. Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân cùng cấp, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên và hoạt động theo chế độ thủ trưởng. Tập trung dân chủ không phải là cơ quan cấp trên làm thay hoặc “lấn sân” cơ quan cấp dưới, đồng thời cũng không phải là việc cơ quan cấp dưới ỷ lại, đùn đẩy cho cấp trên.

Như vậy, có thể thấy rằng loại ý kiến thứ ba về nguyên tắc tập trung dân chủ như đã nói ở trên chỉ đúng đối với tổ chức và hoạt động của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (tức là chỉ đúng đối với hoạt động của các cơ quan làm việc theo chế độ thủ truởng).
Trong tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, nguyên tắc tập trung dân chủ được thể hiện rất đa dạng như Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước; trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội. Chánh án Tòa án nhân dân địa phương chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp; trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân. Chế độ bổ nhiệm Thẩm phán được thực hiện đối với Tòa án các cấp. Chế độ bầu Hội thẩm nhân dân được thực hiện đối với Tòa án nhân dân địa phương. Chế độ cử Hội thẩm quân nhân được thực hiện đối với Tòa án quân sự cấp quân khu, khu vực. Việc xét xử ở Tòa án có Hội thẩm tham gia theo qui định của pháp luật tố tụng. Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán. Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số. Tòa án xét xử công khai (trừ một số trường hợp đặc biệt). Tòa án đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tòa án bảo đảm cho những người tham gia tố tụng quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước Tòa án. Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử…
Đối với Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), nguyên tắc tập trung dân chủ được thể hiện mang tính chất đặc thù. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm, chịu sự giám sát của Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Viện trưởng VKSND địa phương do Viện trưởng VKSNDTC bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân. Viện kiểm sát do Viện trưởng lãnh đạo, Viện trưởng VKSND cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cấp trên; Viện trưởng VKSND các địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát Quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSNDTC. VKSND cấp trên có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật của VKSND cấp mạnh mẽ như nước lũ mùa xuân trong khi thảo luận, nhưng khi điều hành thì hàng triệu người phải tuân theo chỉ huy của một người. Cường điệu một chiều là trái với nguyên tắc tập trung dân chủ.

1 Dẫn theo Giáo trình Lý luận về Nhà nước và pháp luật, Trường ĐH Luật HN, NXb Giáo dục, Hà Nội, 1996, trang 230.
2 Tổ bộ môn Luật Hiến pháp, Khoa Luật Hành chính trong đợt sinh hoạt chuyên môn tháng 3/2004 có thảo luận về vấn đề này và hiện nay vẫn có những ý kiến khác nhau về nội dung của nguyên tắc này.
3 Giáo trình Luật Nhà nước Việt Nam, Trường Đại học Pháp lý Hà Nội, Hà Nội, 1991, tr. 148 - 149.
4 Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Trường ĐH Luật HN, Nxb CAND, Hà Nội, 2003, tr. 290.
5 Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Trường ĐHTH HN, Hà Nội, 1993, tr. 174.
6 Luật Nhà nước Việt Nam, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Khoa Luật, Hà Nội, 1994, tr. 233.
7 Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, ĐHQG Hà Nội, Trường Đại học KHXH&NV - Khoa Luật, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999, trang 221.
8 Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Đại học Huế, Trung tâm Đào tạo từ xa, Huế, 1997.
9 Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Trung tâm KHXH&NV Quốc gia, Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996.
10 Nội san trao đổi, trường Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh, số 1/2004, trang 40.
11 Một số tác giả hiểu chưa thật chính xác nên cho rằng nguyên tắc này là tập trung - (tức là thêm dấu gạch ngang) nên lập luận rằng “nguyên tắc này bao hàm sự kết hợp giữa hai yếu tố tập trung và dân chủ”. Xem Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Trường ĐH Luật HN, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2001, trang 72.
12 Dẫn theo Nội san trao đổi, Trường Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh, số 1/2004, trang 39.
13 Xem: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb CTQG , Hà Nội, 2001, trang 15; Điều lệ Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hà Nội, 1997, trang 13. Tuy nhiên, do tính chất khác nhau nên việc áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức của Đảng và một số tổ chức chính trị - xã hội là không hoàn toàn giống với các cơ quan nhà nước.
14 Xem: Điều 19 Luật tổ chức Chính phủ năm 2001.
15 Xem: Điều 124 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003.

 
hoanglaotaThời gian: Thứ 7, 2010-03-20, 7:55 AM | Số tin # 30
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
ĐIỂM KHÁC NHAU CƠ BẢN TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG THEO HP 80 VÀ QUỐC HỘI VỚI CHÍNH PHỦ THEO HP92 ->HP80 ( Đóng yên cương)

HDBT chỉ là một cơ quan chấp hành của QH đồng thời là cơ quan hành chính cao nhất của QH. điều này có nghĩa là CP không thật sự là cơ quan hành chính cao nhất mà QH mới là cơ quan cao nhất . Quy định này thể hiện tư duy tập quyền cao độ tuyệt đối hóa vai trò của QH với nổ lực xây dựng QH với mô hình"tập quyền" Vì QH theo HP 80 vì ko thể quản lý được nên QH mới lập ra HDBT nhưng QH lại sợ và lại "trói chân" HDBT ko cho HDBT quản lý, QH đã "ôm đồm"đã can thiệp vào làm thay công việc quản lý của HDBT.
Tính hình chính bị "lu mờ" và HDBT muốn quản lý phải chờ QH họp, QH quyết thì mới đc làm.
Điều 109 HP92 sửa lại CP là cơ quan chấp hành của QH, đồng thời là cơ quan hành chính cao nhất của Nước CHXHCNVN . Với quy định này, thực sự CP là 1 cơ quan hành chính cao nhất. Chứng tỏ chúng ta đã có sự áp dụng phân công rành mạch giữa các cơ quan, QH ko quản lý đc--> giao cho CP là cơ quan Hành chính cao nhất.
--> việc HP 92 đã nhấn mạnh và đề cao tính hành chính của CP có ý nghĩa rất quan trọng vì công việc quản lý là phát sinh liên tục, hằng ngày, hằng giờ do đó để có thể giải quyết một cách nhanh chóng, kip thời vì vậy phải có 1 cơ quan tinh gọn , mạnh mẽ là CP chứ tuyệt đối ko thể giao cho QH. ( vì vậy: mà đặt người, HP80 vì người đặt việc)
Mối quan hệ giữa Hành pháp ( CP) và lập pháp ( QH) theo HP 92 được xây dựng trên một triết lý dân gian " Việc trói chân 1 con ngựa hoàn toàn khác với việc Đóng Yên Cương cho con ngựa" , Hay nói cách khác đi HP92 , đã dùng cơ chế "Đóng yên cương cho CP" để thay thế trói chân HDBT theo HP80. ( Sợi dây cương --->chính là chức năng giám sát tối cao)


Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Thứ 7, 2010-03-20, 7:58 AM
 
Diễn đàn » THÔNG TIN MÔN HỌC » Hiếp Pháp » Hỏi đáp (tham khảo)
Page 2 of 3«123»
Search: