BÀI TẬP NHÓM 3 - Diễn đàn
[ New messages · Members · Forum rules · Search · RSS ]
Page 1 of 11
Diễn đàn » THÔNG TIN MÔN HỌC » Luật Hành Chính » BÀI TẬP NHÓM 3 (Thành viên nhóm thảo luận tại đây (nhóm Thanh Nga))
BÀI TẬP NHÓM 3
hoanglaotaThời gian: Thứ 7, 2010-03-27, 9:55 AM | Số tin # 1
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
Xin mời các thành viên nhóm 3 và các thành viên khác trong diễn đàn cùng thảo luận ( nếu được)

Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Thứ 7, 2010-03-27, 7:14 PM
 
hoanglaotaThời gian: Thứ 7, 2010-03-27, 10:01 AM | Số tin # 2
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
Phân tích nguyên tắc "tập trung dân chủ"

a) Cơ sở pháp lý

Ðây là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của nhà nước ta nên việc thực hiện quản lý hành chính nhà nước phải tuân theo nguyên tắc này. Ðiều 6-Hiến pháp 1992 quy định :Quốc hội, hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

b) Nội dung nguyên tắc

Nguyên tắc tập trung dân chủ bao hàm sự kết hợp giữa hai yếu tố tập trung và dân chủ, vừa đảm bảo sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ, vừa đảm bảo mở rộng dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung.

¨ Tuy nhiên, đây không phải là sự tập trung toàn diện và tuyệt đối, mà chỉ đối với những vấn đề cơ bản, chính yếu nhất, bản chất nhất. Sự tập trung đó bảo đảm cho cơ quan cấp dưới, cơ quan địa phương có cơ sở và khả năng thực hiện quyết định của trung ương; đồng thời, căn cứ trên điều kiện thực tế của mình, có thể chủ động sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề của địa phương và cơ sở. Cả hai yếu tố này vì thế phải có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ. Chúng có mối quan hệ qua lại, phụ thuộc và thúc đẩy nhau cùng phát triển trong quản lý hành chính nhà nước.

¨ Tập trung dân chủ thể hiện quan hệ trực thuộc, chịu trách nhiệm và báo cáo của cơ quan quản lý trước cơ quan dân chủ ; phân định chức năng, thẩm quyền giữa cơ quan quản lý các cấp, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung của cấp trên của trung ương và quyền chủ động của cấp dưới. Ngoài ra, đó là hệ thống "song trùng trực thuộc" của nhiều cơ quan quản lý, bảo đảm sự kết hợp tốt nhất sự lãnh đạo tập trung theo ngành với quyền quản lý tổng thể của địa phương.

¨ Có sự phân cấp rành mạch. Quyền lực nhà nước không phải được ban phát từ cấp trên xuống cấp dưới. Sự phân quyền cho từng cấp là cần thiết nhưng phải đồng thời được kết hợp với việc xác định vai trò của từng cấp hành chính: trung ương, tỉnh, huyện, xã. Từ khi ra đời, mỗi cấp đã có "sứ mệnh lịch sử" và vai trò quản lý hành chính nhà nước riêng, đặc thù. Có những chức năng được thực hiện ở cấp dưới lại có hiệu quả hơn cấp trên, hoặc có những chức năng tất yếu phải được thực hiện ở cấp cơ sở. Hương ước làng xã là một ví dụ. Hương ước không thể được "lập ra" ở cấp huyện, cấp mà có thể có rất nhiều làng xã với những tập quán và lối sống khác nhau. Từ đó, nguyên tắc tập trung dân chủ được biểu hiện cụ thể như sau:

- Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp.

Ðiều 6-Hiến pháp 1992 quy định : Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.

Như vậy, Hiến pháp quy định tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực nhà nước do chính họ bầu ra để thay mặt mình trực tiếp thực hiện những quyền lực đó. Ðể thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, hệ thống cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và nó luôn có sự phụ thuộc vào các cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp.

+ Các cơ quan quyền lực nhà nước có những quyền hạn nhất định trong việc thành lập, thay đổi, bãi bỏ các cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp.

+ Trong hoạt động, các cơ quan hành chính nhà nước luôn chịu sự chỉ đạo, giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước và chịu trách nhiệm báo cáo hoạt động của mình với cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp.

Tất cả sự phụ thuộc này nhằm mục đích bảo đảm cho hoạt động của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, phù hợp với ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân lao động, bảo đảm sự tập trung quyền lực vào cơ quan quyền lực-cơ quan do dân bầu và chịu trách nhiệm trước nhân dân.

- Sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên, của địa phương đối với trung ương.

Nhờ có sự phục tùng này cấp trên và trung ương mới tập trung quyền lực nhà nước để chỉ đạo, giám sát hoạt động của cấp dưới và của địa phương, nếu không có sự phục tùng sẽ xảy ra tình trạng cục bộ địa phương, tùy tiện, vô chính phủ.

+ Sự phục tùng ở đây là sự phục tùng mệnh lệnh hợp pháp trên cơ sở quy định của pháp luật.

+ Mặt khác, trung ương cũng phải tôn trọng ý kiến của cấp dưới, địa phương về công tác tổ chức, hoạt động và về các vấn đề khác của quản lý hành chính nhà nước.

+ Phải tạo điều kiện để cấp dưới, địa phương phát huy sự chủ động, sáng tạo nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, nhằm chủ động thực hiện được "thẩm quyền cấp mình". Có như thế mới khắc phục tình trạng quan liêu, áp đặt ý chí, làm mất đi tính chủ động sáng tạo của địa phương, cấp dưới.

- Sự phân cấp quản lý.

Là sự phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước. Mỗi cấp quản lý có những mục tiêu, nhiệm vụ, thẩm quyền và những phương thức cần thiết để thực hiện một cách tốt nhất những mục tiêu, nhiệm vụ của cấp mình.

Phân cấp quản lý là một biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ. Tuy nhiên, việc phân cấp phải đảm bảo những yêu cầu sau:

+ Phải xác định quyền quyết định của trung ương đối với những lĩnh vực then chốt, những vấn đề có ý nghĩa chiến lược để đảm bảo sự phát triển cân đối hài hòa của toàn xã hội, bảo đảm sự quản lý tập trung và thống nhất của nhà nước trong phạm vi toàn quốc.

+ Phải mạnh dạn phân quyền cho địa phương, các đơn vị cơ sở để phát huy tính chủ động sáng tạo trong quản lý, tích cực phát huy sức người, sức của, đẩy mạnh sản xuất và phục vụ đời sống nhằm hoàn thành nhiệm vụ mà cấp trên giao phó.

+ Phải phân cấp quản lý cụ thể, hợp lý trên cơ sở quy định của pháp luật. Hạn chế tình trạng cấp trên gom quá nhiều việc, khi không làm xuể công việc ấy thì giao lại cho cấp dưới. Phân cấp quản lý phải xác định chức năng cơ quan. Mỗi loại việc chỉ được thực hiện bởi một cấp cơ quan, hoặc một vài cấp cơ quan. Cấp trên không phải lúc nào cũng thực hiện được một số chức năng một cách có hiệu quả như cấp dưới.

- Sự hướng về cơ sở

Hướng về cơ sở là việc các cơ quan hành chính nhà nước mở rộng dân chủ trên cơ sở quản lý tập trung đối với hoạt động của toàn bộ hệ thống các đơn vị kinh tế, văn hóa xã hội trực thuộc. Các đơn vị cơ sở của bộ máy hành chính nhà nước là nơi tạo ra của cải vật chất trực tiếp phục vụ đời sống nhân dân. Vì thế nhà nước cần có các chính sách quản lý thống nhất và chặt chẽ, cung cấp và giúp đỡ về vật chất nhằm tạo điều kiện để đơn vị cơ sở hoạt động có hiệu quả. Có như vậy hoạt động của các đơn vị này mới phát triển một cách mạnh mẽ theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Ðây cũng chính là việc thực hiện "dân là gốc" trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

- Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc song trùng trực thuộc. Ðối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung một mặt phụ thuộc vào cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, mặt khác phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.

Ví dụ: UBND Tỉnh A một mặt chịu sự chỉ đạo của HÐND Tỉnh A theo chiều ngang, một mặt chịu sự chỉ đạo của Chính phủ theo chiều dọc.

Ðối với cơ quan chuyên môn, một mặt phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung cùng cấp, mặt khác nó phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cấp trên trực tiếp.

Ví dụ: Sở Tư pháp Tỉnh B, một mặt phụ thuộc vào UBND Tỉnh B, mặt khác phụ thuộc vào Bộ Tư pháp.

Nguyên tắc song trùng trực thuộc của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương bảo đảm sự thống nhất giữa lợi ích chung của nhà nước với lợi ích của địa phương, giữa lợi ích ngành với lợi ích của lãnh thổ.

----------
Tài liệu tham khảo trích từ Giáo trình LHC

Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Thứ 7, 2010-03-27, 7:11 PM
 
hoanglaotaThời gian: Thứ 7, 2010-03-27, 10:11 AM | Số tin # 3
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC(đây là các cơ sở lý luận rất hay cần tham khảo hoặc bổ sung vào bài thuyết trình)

Tập trung dân chủ là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nguyên tắc này đã được ghi nhận tại Điều 4 Hiến pháp 1959, Điều 6 Hiến pháp 1980 và Điều 6 Hiến pháp 1992 “…Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”. Không những ở nước ta, các nước xã hội chủ nghĩa cũng ghi nhận nguyên tắc này trong Hiến pháp và cũng xác định là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

Như vậy, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ phải là một hoạt động thường xuyên trong quá trình tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và của các cơ quan nhà nước nói riêng. Vấn đề đặt ra tưởng rằng như đơn giản nhưng hiện nay còn nhiều ý kiến chưa thống nhất, là: hiểu nội dung của nguyên tắc này như thế nào cho đúng?

Theo chúng tôi, hiện nay có ba loại ý kiến khác nhau về nguyên tắc này.

Loại ý kiến thứ nhất cho rằng nội dung của nguyên tắc này là sự kết hợp hai mặt tập trung và dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước. “Tập trung dân chủ là hai mặt của một thể thống nhất, không bao giờ được phép cường điệu hoặc coi nhẹ bất cứ mặt nào. Vì như vậy sẽ dẫn đến những hậu quả như: chuyên quyền, độc đoán, mất dân chủ, hạn chế tự do, sáng tạo, coi thường pháp luật v.v…”. “Tập trung và dân chủ là hai mặt của một thể thống nhất kết hợp hài hòa với nhau. Nếu thiên về tập trung mà không chú trọng đến dân chủ sẽ dẫn đến tập trung quan liêu, độc đoán trái với bản chất của Nhà nước ta. Ngược lại, nếu thiên về dân chủ mà coi nhẹ tập trung sẽ dẫn đến dân chủ quá trớn làm cho hoạt động của bộ máy nhà nước kém hiệu quả”. “Nghệ thuật của sự vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ là tìm tỷ lệ kết hợp tối ưu của hai mặt tập trung và dân chủ trong tổ chức và hoạt động của từng lĩnh vực, ngành cụ thể, trong từng giai đoạn, từng hoàn cảnh, thậm chí là từng vấn đề cụ thể”. “Trong từng địa phương, từng thời điểm khác nhau cần định ra liều lượng kết hợp giữa những chế độ tập trung và chế độ dân chủ thích hợp tạo nên sự thống nhất hai mặt của nguyên tắc”. “Nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là sự kết hợp biện chứng giữa hai mặt: tập trung (thống nhất) và dân chủ”. “Nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện sự thống nhất biện chứng giữa chế độ tập trung và chế độ dân chủ. Do vậy, bất kỳ sự nhấn mạnh hay coi nhẹ một mặt nào của nguyên tắc này sẽ dẫn đến sự thiếu hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động của bộ máy nhà nước. Nếu quá tập trung sẽ dẫn đến tình trạng tập trung quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, phi dân chủ, còn nếu quá dân chủ sẽ dẫn đến tình trạng dân chủ quá trớn, lạm dụng dân chủ và vô chính phủ. Nói như vậy cũng không có nghĩa là chúng ta dàn đều cả hai nội dung tập trung và dân chủ”.

Loại ý kiến thứ hai cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ là “sự” tập trung “một cách” dân chủ. Nguyên tắc này thể hiện sự tập trung trên cơ sở dân chủ chân chính, kết hợp sáng tạo với sự thực hiện, chấp hành nghiêm chỉnh và tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật cao. V.I. Lênin đã nhấn mạnh rằng, nguyên tắc tập trung dân chủ ở nghĩa chung nhất là: tập trung được hiểu ở nghĩa dân chủ thực sự.

Ngoài ra, còn có loại ý kiến thứ ba cho rằng tập trung dân chủ là việc thủ trưởng có toàn quyền quyết định các vấn đề của cơ quan trên cơ sở đóng góp ý kiến của nhân viên. Hay nói một cách khác, việc đóng góp ý kiến của cán bộ, công nhân viên, các thành viên trong cơ quan, đơn vị chỉ có ý nghĩa tham khảo và việc quyết định thuộc thẩm quyền của thủ trưởng.

Như vậy, có thể thấy đa số các tác giả cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước là sự kết hợp giữa hai yếu tố (hai mặt) tập trung và dân chủ. Sự kết hợp giữa các mặt này là không giống nhau, điều đó phụ thuộc vào tính chất của các cơ quan, phụ thuộc vào trình độ quản lý, vào điều kiện cụ thể về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Chúng tôi cho rằng để hiểu một cách chính xác nội dung của nguyên tắc này, trước hết cần xem xét về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp của thuật ngữ này. Chúng tôi đồng ý với ý kiến cho rằng thuật ngữ “tập trung dân chủ” thì “tập trung” là danh từ, “dân chủ” là tính từ; tính từ bổ nghĩa cho danh từ. Như vậy, “tập trung dân chủ” không phải là tập hợp của hai danh từ [cũng cần nhắc lại rằng Điều 6 Hiến pháp 1992 qui định “…Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước đều tổ chức va hoạt động theo “nguyên tắc tập trung dân chủ” chứ không phải là nguyên tắc tập trung, (phẩy) dân chủ hoặc cũng không phải là tập trung - (gạch ngang) dân chủ. Do đó, dễ dàng có thể nhận thấy rằng nội dung của nguyên tắc này không phải là hai vế, hai mặt của một vấn đề. Tập trung dân chủ là “tập trung” trên cơ sở “dân chủ” (tập trung một cách dân chủ).

Tập trung là một thuộc tính quản lý quan trọng của bất kỳ nhà nước nào, song nhà nước xã hội chủ nghĩa nói chung và nhà nước ta nói riêng không áp dụng sự tập trung độc đoán hay tập trung quan liêu mà là tập trung trên cơ sở dân chủ chân chính. Sự tập trung đó rất xa lạ với tập trung quan liêu, tách rời bộ máy nhà nước với nhân dân. Đúng như V.I.Lênin đã nhấn mạnh rằng, nguyên tắc tập trung dân chủ ở nghĩa chung nhất là: tập trung được hiểu ở nghĩa dân chủ thực sự. Tập trung trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước phải mang tính dân chủ chứ không phải tập trung độc đoán, tập trung quan liêu. Ngoài ra, cũng cần lưu ý rằng nguyên tắc này được Lênin nêu ra trước Cách mạng tháng 10 Nga trong bối cảnh nội bộ Đảng Cộng sản Nga xuất hiện nhiều tư tưởng có khuynh hướng cản trở việc thống nhất đường lối, thống nhất hành động cách mạng. Nội dung của nguyên tắc này, theo Lênin là thống nhất nhận thức, thống nhất hành động để giữ vững đường lối cách mạng và tiến hành cách mạng thắng lợi. Từ đó, nguyên tắc tập trung dân chủ được xác định là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Nga.

Ở nước ta, nguyên tắc này không những được áp dụng trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước mà tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam và một số các tổ chức chính trị – xã hội cũng vận dụng nguyên tắc này.

Bất kỳ xã hội và bất kỳ kiểu nhà nước nào, việc quản lý xã hội và thực hiện quyền lực nhà nước (quản lý nhà nước) đều phải có sự tập trung quyền lực. Đây là yếu tố bắt buộc và mang tính tất yếu nhằm điều khiển (quản lý) được toàn bộ các hoạt động xã hội, thiết lập và duy trì một trật tự xã hội phù hợp với ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị xã hội. Tuy nhiên, nội dung (tính chất) của sự tập trung trong các chế độ xã hội và chế độ nhà nước hoàn toàn không giống nhau. Điều đó trước hết phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội, chế độ nhà nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội. Trong xã hội phong kiến, quyền lực nhà nước tập trung trong tay giai cấp thống trị phong kiến mà đại diện là nhà vua; đặc biệt ở các nhà nước theo chính thể quân chủ chuyên chế, chế độ cai trị thể hiện sự độc đoán, chuyên quyền, phản dân chủ (hoặc có dân chủ nhưng rất hạn chế). Đến chế độ tư bản chủ nghĩa, tập trung, quan liêu là đặc trưng điển hình của việc tổ chức bộ máy nhà nước tư sản. Các cơ quan cai trị với những quan lại cai trị được bổ nhiệm từ trên xuống luôn kiêu căng, lấn át, xa rời thực tế; chỉ chịu trách nhiệm trước cấp trên mà không chịu trách nhiệm trước nhân dân và không chịu sự giám sát của nhân dân. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã kịch liệt phê phán cơ chế tập trung quan liêu đó. Đối với bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa thì một nguyên tắc mới đã được vận dụng, đó là nguyên tắc tập trung dân chủ. Nội dung của nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước có biểu hiện rất phong phú và đa dạng, nhưng thể hiện một cách khái quát ở việc phân công công việc, mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước (ở trung ương cũng như ở các cấp địa phương), sự phân cấp về thẩm quyền (nhiệm vụ, quyền hạn), mối quan hệ giữa trung ương với địa phương, giữa các cấp địa phương với nhau. Trong từng cơ quan nhà nước, những vấn đề nào do tập thể quyết định; những vấn đề nào do người đứng đầu quyết định; qui định cách thức quyết định những vấn đề đó.

Trên bình diện toàn bộ bộ máy nhà nước, nguyên tắc tập trung dân chủ được biểu hiện ở một số nội dung cơ bản:

- Toàn bộ các cơ quan nhà nước phải có một trung tâm quyền lực chỉ đạo một cách mạnh mẽ và thống nhất, mỗi cơ quan nhà nước đều có những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhất định. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

- Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Các cơ quan quyền lực nhà nước như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp phải do nhân dân bầu ra theo bốn nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín trên cơ sở dân chủ. Các đại biểu dân cử thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, nói lên tiếng nói và nguyện vọng của nhân dân, chịu sự giám sát chặt chẽ của nhân dân. Nếu không còn được sự tín nhiệm của nhân dân thì đại biểu dân cử có thể bị bãi nhiệm.

- Quốc hội có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước theo qui định của Hiến pháp và pháp luật, nhưng những vấn đề quan trọng nhất của đất nước trước khi quyết định phải lấy ý kiến của nhân dân hoặc phải do nhân dân trực tiếp quyết định thông qua việc trưng cầu ý kiến của nhân dân. Ở địa phương, những vấn đề quan trọng ở địa phương cần tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân thảo luận, đóng góp ý kiến hoặc trực tiếp quyết định.

- Trên cơ sở qui định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của mình và căn cứ vào đặc điểm, tình hình, lợi ích hợp lý của điạ phương (và cấp dưới), các cơ quan nhà nước trung ương (và cấp trên) có quyền quyết định đối với địa phương (và cấp dưới). Các cơ quan nhà nước địa phương (và cấp dưới) có quyền chủ động, sáng tạo trong việc thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước trung ương (và cấp trên) hoặc những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình, phù hợp với đặc điểm cụ thể của địa phương hoặc đơn vị mình, nhưng không được trái với các qui định của trung ương (và cấp trên ).

- Trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, phải phân định những vấn đề thuộc thẩm quyền tập thể, những nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của người đứng đầu. Những vấn đề thuộc thẩm quyền tập thể thì thiểu số phục tùng đa số nhưng thiểu số có quyền bảo lưu ý kiến, đa số cũng cần xem xét, tham khảo ý kiến của thiểu số để kiểm tra tính đúng đắn trong quyết định của mình. Những vấn đề cá nhân có quyền quyết định thì cá nhân phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

- Ủy ban nhân dân các cấp do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra (và do cấp trên phê chuẩn) và phải thực hiện các quyết nghị của cơ quan quyền lực, chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực cùng cấp.

Nguyên tắc tập trung dân chủ được vận dụng trong tổ chức và hoạt động trong các cơ quan nhà nước khác nhau thì khác nhau. Có thể phác họa hình thức thể hiện của nguyên tắc này trong từng loại cơ quan nhà nước như sau:

- Các cơ quan quyền lực nhà nước do nhân dân bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân. Các đại biểu dân cử có thể bị nhân dân bãi nhiệm nếu không còn sự tín nhiệm của nhân dân. Các văn bản của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp có giá trị bắt buộc đối với các cơ quan cùng cấp và cấp dưới. Tất cả các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đều được thảo luận một cách dân chủ, công khai trong các kỳ họp và quyết định theo đa số (trừ một số vấn đề đặc biệt được quyết định khi có ít nhất 2/3 tổng số đại biểu biểu quyết tán thành).

- Đối với cơ quan hành chính nhà nước nguyên tắc này thể hiện, Chính phủ do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm (đối với Thủ tướng), phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức (đối với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ) theo đề nghị của Thủ tướng, bỏ phiếu tín nhiệm đối với các thành viên của Chính phủ. Quốc hội thành lập, sáp nhập, giải thể các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt theo sự đề nghị của Thủ tướng (sau khi đã được tập thể Chính phủ quyết định). Chính phủ thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp và pháp luật qui định để thi hành Hiến pháp, luật và các nghị quyết của Quốc hội. Chính phủ thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số 8 nhóm vấn đề quan trọng, trong trường hợp biểu quyết ngang nhau thì sẽ thực hiện theo ý kiến mà Thủ tướng đã biểu quyết. Thủ tướng có quyền quyết định cá nhân những vấn đề khác (Điều 20, Luật tổ chức Chính phủ 2001). Ủy ban nhân dân các cấp do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra. Người đứng đầu cơ quan hành chính cấp trên có quyền phê chuẩn nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp về việc bầu Ủy ban nhân dân; có quyền điều động, miễn nhiệm, cách chức đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch cơ quan hành chính cấp dưới trực tiếp; phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên khác của cơ quan hành chính cấp dưới trực tiếp. Ủy ban nhân dân thảo luận tập thể và quyết định theo đa số 6 nhóm vấn đề quan trọng. Chủ tịch Ủy ban nhân dân quyết định những vấn đề còn lại thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân. Đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Các cơ quan thuộc Chính phủ làm việc theo chế độ thủ trưởng, bảo đảm tính dân chủ. Bộ trưởng có quyền quyết định các công việc thuộc phạm vi quản lý của Bộ và chịu trách nhiệm về các quyết định đó, Bộ trưởng chịu trách nhiệm về những công việc do Bộ trực tiếp quản lý, chịu trách nhiệm liên đới về những công việc đã phân cấp cho chính quyền địa phương nhưng do Bộ không thực hiện đầy đủ trách nhiệm. Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân cùng cấp, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên và hoạt động theo chế độ thủ trưởng. Tập trung dân chủ không phải là cơ quan cấp trên làm thay hoặc “lấn sân” cơ quan cấp dưới, đồng thời cũng không phải là việc cơ quan cấp dưới ỷ lại, đùn đẩy cho cấp trên.

Như vậy, có thể thấy rằng loại ý kiến thứ ba về nguyên tắc tập trung dân chủ như đã nói ở trên chỉ đúng đối với tổ chức và hoạt động của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (tức là chỉ đúng đối với hoạt động của các cơ quan làm việc theo chế độ thủ truởng).
Trong tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, nguyên tắc tập trung dân chủ được thể hiện rất đa dạng như Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước; trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội. Chánh án Tòa án nhân dân địa phương chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp; trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân. Chế độ bổ nhiệm Thẩm phán được thực hiện đối với Tòa án các cấp. Chế độ bầu Hội thẩm nhân dân được thực hiện đối với Tòa án nhân dân địa phương. Chế độ cử Hội thẩm quân nhân được thực hiện đối với Tòa án quân sự cấp quân khu, khu vực. Việc xét xử ở Tòa án có Hội thẩm tham gia theo qui định của pháp luật tố tụng. Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán. Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số. Tòa án xét xử công khai (trừ một số trường hợp đặc biệt). Tòa án đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tòa án bảo đảm cho những người tham gia tố tụng quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước Tòa án. Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử…
Đối với Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), nguyên tắc tập trung dân chủ được thể hiện mang tính chất đặc thù. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm, chịu sự giám sát của Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Viện trưởng VKSND địa phương do Viện trưởng VKSNDTC bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân. Viện kiểm sát do Viện trưởng lãnh đạo, Viện trưởng VKSND cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cấp trên; Viện trưởng VKSND các địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát Quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSNDTC. VKSND cấp trên có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật của VKSND cấp mạnh mẽ như nước lũ mùa xuân trong khi thảo luận, nhưng khi điều hành thì hàng triệu người phải tuân theo chỉ huy của một người. Cường điệu một chiều là trái với nguyên tắc tập trung dân chủ.


Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Thứ 7, 2010-03-27, 7:16 PM
 
hoanglaotaThời gian: Thứ 7, 2010-03-27, 12:00 PM | Số tin # 4
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
Nguyên tắc tập trung dân chủ ( theo đề cương Luật Hiến pháp)

a. Cơ sở lý luận:
- Tổ chức và hoạt động của BMNN nói chung là mang tính tập trung vì gắn liền với việc thực hiện quyền lực nhà nước ( quyền lực - phục tùng quyền lực).
- Nhưng tổ chức và hoạt động của BMNN kiểu cũ ( nhà nước TS, phong kiến, chủ nô) tập trung là mang tính quan liêu.
- Còn tổ chức và hoạt động của BMNN XHCN khác nhà nước kiểu cũ về bản chất, mục đích nên theo nguyên tắc tập trung nhưng mang tính dân chủ.

b. Cơ sở hiến định:
Điều 6 HP hiện hành quy định: " QH, HĐND các cấp và các CQNN khác tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ".
c. Nội dung và yêu cầu của nguyên tắc :
- Những nội dung , yêu cầu bảo đảm tính tập trung thống nhất trong tổ chức, hoạt động của các cơ quan nhà nước:
+ Cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng trung ương , nhân viên phục tùng thủ trưởng...
+ Cơ quan làm việc theo chế độ tập thể đòi hỏi thiểu số phải phục tùng đa số:
Nhưng để việc tập trung trong tổ chức và hoạt động của BMNN không mang tính quan liêu mà phải mang tính dân chủ, đòi hỏi: phải biết phát huy sự năng động, sáng tạo và lắng nghe ý kiến cấp dưới, địa phương và nhân viên.
+ Các cơ quan nhà nước ở trung ương, cơ quan nhà nước cấp trên trước khi ra quyết định phải điều tra , khảo sát thực tế, phải tiếp thu các ý kiến, kiến nghị hợp lý của địa phương , của cấp dưới và ý kiến, kiến nghị của nhân dân.
+ Cơ quan NN làm việc theo chế độ tập thể trước khi biểu quyết phải thảo luận dân chủ...


Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Thứ 7, 2010-03-27, 7:05 PM
 
wanwelunThời gian: Thứ hai, 2010-03-29, 3:16 PM | Số tin # 5
Major
Nhóm: Administrators
Bài viết: 91
Phần thưởng: 12
Đẳng cấp: 0
Trạng thái: Rời mạng
Nhìn lại mười năm thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở

Thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân được Đảng ta xác định vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng. Thực hiện dân chủ ở cơ sở rõ ràng đã tạo ra động lực mới, động viên nguồn sức mạnh nội tại từ mỗi thành viên và của cả cộng đồng hướng tới phát triển một cách toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Cách đây mười năm, ngày 18-2-1998, Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa VIII ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở. Việc ra đời Chỉ thị này là một quá trình nghiên cứu lý luận, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn, trăn trở suy nghĩ, tìm tòi công phu của Đảng. Tiếp đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ, Chính phủ ban hành các nghị định về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan doanh nghiệp nhà nước. Việc quán triệt và thực hiện Chỉ thị số 30 của Bộ Chính trị có ý nghĩa nhiều mặt trong đời sống xã hội. Vì vậy, Chỉ thị đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, được đông đảo nhân dân đồng tình và triển khai rộng rãi. Mười năm qua, việc thực hiện Chỉ thị số 30 đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, nhưng cũng bộc lộ không ít hạn chế, thiếu sót và đặt ra nhiều vấn đề cần khắc phục.

Về nhận thức, chúng ta đã ngày một thấy rõ hơn dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, là mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền lợi đều của dân. Công cuộc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Dân chủ là cái quý nhất của nhân dân, thực hành dân chủ là cái “chìa khóa vạn năng” có thể giải quyết mọi khó khăn...

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) của Đảng ta khẳng định: Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Chỉ thị số 30 của Bộ Chính trị nêu rõ: Khâu quan trọng nhất và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất.

Từ khi Đảng ta cầm quyền và bước vào cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng sớm xác định cơ chế tổng thể của chế độ ta là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Phương châm thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân là: Dân biết dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Theo tinh thần đổi mới là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật và nhận rõ những việc cần làm ngay..., Đảng khẳng định các giá trị của dân chủ. Đó là nền dân chủ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Dân chủ gắn với dân sinh, dân trí, dân quyền, đem lại hạnh phúc đích thực cho nhân dân.

Ngày nay, phát huy dân chủ là yêu cầu khách quan gắn với thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là điều kiện để đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở là khâu đột phá trong toàn bộ quá trình phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Tuy nhiên, nhận thức về vấn đề này không dễ dàng thống nhất, mà là một quá trình cùng với những hoạt động thực tiễn đẩy lùi các hành vi mất dân chủ, độc đoán, chuyên quyền, tham nhũng, lãng phí, trù úm, ức hiếp dân của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Nhiều người chưa thấy hết những giá trị của thực hiện dân chủ, coi nhẹ, không quan tâm dẫn đến việc thực hiện Quy chế một cách hình thức, qua loa, hời hợt. Nhiều người còn hoài nghi, thiếu tin tưởng vào những giá trị thực thi của Quy chế. Có không ít người lợi dụng Quy chế, cố tình hiểu sai, làm sai theo nhận thức chủ quan và lợi ích của riêng mình. Lại có người đồng nhất dân chủ với tự do vô tổ chức, vô kỷ luật, bất chấp kỷ cương pháp luật dẫn đến, cán bộ thì lạm quyền, dân thì khiếu kiện lung tung, phát ngôn, hành động tùy tiện. Không ít người do thiếu hiểu biết, không nhận rõ quyền hạn, trách nhiệm làm chủ nên đã không quan tâm tìm hiểu, học tập, thực hiện Quy chế, coi đây là việc của Đảng, của Nhà nước, xa vời đối với mình. Nhiều người lại đòi hỏi dân chủ vượt quá những nguyên tắc, các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, không thấy tính lịch sử, tính khách quan của vấn đề nên đã quan niệm sai về dân chủ.

Những biểu hiện hạn chế nhận thức về dân chủ trong cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân hiện nay rất đa dạng, nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Thực tế cho thấy, đây là cản trở đầu tiên, trước hết, lâu dài và có tính quyết định tới kết quả thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở.

Về hoạt động thực thi các nội dung Quy chế Dân chủ ở cơ sở đã có những kết quả cụ thể, thiết thực góp phần tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong sự nghiệp đổi mới.
Thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở đã tạo ra những chuyển biến bước đầu trong lề lối làm việc của các cơ quan đảng, chính quyền cơ sở cũng như cán bộ, công chức nhà nước theo hướng dân chủ, công khai, sát dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân. Nhiều vấn đề liên quan thiết thực đến đời sống của nhân dân như: chuyển đổi hợp tác xã, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển ngành nghề, quy hoạch sử dụng đất đai, quy hoạch giãn dân, kế hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng, cổ phần hóa doanh nghiệp, xí nghiệp, nhà máy, công tác cán bộ... được đưa ra thảo luận công khai, dân chủ, rộng rãi trong nhân dân.

Trong huy động dân đóng góp xây dựng kết cấu hạ tầng, hỗ trợ người gặp tai nạn, rủi ro, thiên tai, nạn nhân chất độc da cam, khuyến học, khuyến tài... đã xuất hiện nhiều tấm gương, nhiều hình thức, thu hút nhân dân tự nguyện tham gia có hiệu quả. Nhờ đó nhiều công trình được hoàn thiện, nhiều đối tượng được giúp đỡ kịp thời, tình đoàn kết gắn bó cộng đồng chặt chẽ hơn. Nhiều văn bản của Nhà nước liên quan đến dân, các hồ sơ, thủ tục hành chính, các lệ phí, thời gian quy định giải quyết công việc... được thông báo công khai dưới nhiều hình thức để dân biết. Coi trọng cải cách hành chính, rà soát bãi bỏ những văn bản, quy định trái với pháp luật, đơn giản thủ tục hành chính, giải quyết kịp thời đơn thư khiếu kiện của dân. Nhiều nơi công khai về thu chi ngân sách, sử dụng các khoản dân đóng góp, mức thuế của các hộ sản xuất, kinh doanh, quy hoạch xây dựng, phương án đền bù, di dân, giải phóng mặt bằng. Nhân dân công khai bình xét các hộ được vay vốn xóa đói, giảm nghèo. Thông báo công khai các công trình, dự án của Nhà nước đầu tư cho cơ sở...

Kết quả thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở góp phần nâng cao phẩm chất, tác phong của cán bộ công chức nhà nước, giảm bớt quan liêu, hách dịch, sách nhiễu, phiền hà, cửa quyền với dân, gần dân, tôn trọng dân lắng nghe ý kiến của dân, tự khép mình vào kỷ luật hơn. Nhiều nơi cán bộ chủ chốt có lịch tiếp dân, đối thoại, trả lời chất vấn với dân. Nhiều nơi xây dựng cộng đồng dân cư, thôn, làng, bản, ấp, tổ dân phố văn minh tiến bộ, khắc phục thói quen bao cấp ỷ lại trông chờ vào Nhà nước. Nhiều nơi xây dựng hương ước, quy ước giúp nhau xóa đói, giảm nghèo, giữ gìn trật tự an ninh, phát huy thuần phong mỹ tục, dân bầu trực tiếp trưởng thôn, làng, bản, ấp, tổ dân phố làm tăng quyền làm chủ trực tiếp của dân và trách nhiệm của cán bộ. Thực tế cho thấy, nơi nào thực hiện tốt Quy chế Dân chủ, nơi đó hệ thống chính trị vững mạnh, nhân dân tin tưởng phấn khởi, đời sống được cải thiện và nâng cao.
Tuy nhiên, những kết quả mới chỉ là bước đầu, không đồng đều ở các địa phương, các loại hình cơ sở và thiếu vững chắc. Nhiều cơ sở triển khai chưa tốt, còn hình thức, “đầu voi đuôi chuột“, một số cơ sở tình hình phức tạp, cán bộ có sai phạm đã triển khai chậm, qua loa. Vẫn còn không ít cán bộ hách dịch, xa dân, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân. Trình độ của cán bộ cơ sở còn nhiều bất cập. Tình trạng thiếu trật tự, kỷ cương, lợi dụng dân chủ để gây rối vẫn còn ở một số nơi. Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chưa được cụ thể, thể chế hóa thành pháp luật nên việc thực hiện còn hình thức, không đi vào cuộc sống.

Tình trạng mất dân chủ, thiếu công khai minh bạch trong nhiều sự việc, hiện tượng làm giảm lòng tin của nhân dân. Những tiêu cực, tệ nạn xã hội không giải quyết kịp thời, minh bạch, công khai, để tồn đọng, mập mờ, đã làm tăng thêm sự nghi ngờ, thiếu tin cậy của dân. Tình trạng quan liêu, quản lý lỏng lẻo, lãng phí, thất thoát lớn ở nhiều công trình, nhiều cơ quan... kéo dài, xử lý không nghiêm, thiếu khách quan chẳng những làm giảm lòng tin mà còn triệt tiêu nguồn động lực của nhân dân.

Tình trạng tích tụ ruộng đất, đô thị hóa, công nghiệp hóa thiếu quy hoạch khoa học gây thiệt hại, lãng phí nguồn tài nguyên đất đai màu mỡ cho sản xuất nông nghiệp làm cho nhân dân buồn chán, lo lắng, mất tin tưởng. Đặc biệt, chính sách thu hồi, đền bù đất, tái định cư với nông dân cũng như những người trong diện giải phóng mặt bằng thiếu dân chủ, không công bằng, không bảo đảm cuộc sống lâu dài của họ... đã gây tâm lý bất bình, bức xúc, mất lòng tin nghiêm trọng. Tình trạng một bộ phận cán bộ cơ hội chạy chọt, bè cánh, lợi dụng chức quyền làm giàu bất chính, trong khi số đông nhân dân, cán bộ làm ăn nghiêm chỉnh thì khó khăn, thiếu thốn dẫn đến thực tế chênh lệch quá lớn trong đời sống xã hội...

Những nghịch lý nêu trên vẫn xảy ra ở nhiều nơi, kéo dài, chậm được ngăn chặn đã vi phạm quyền làm chủ của nhân dân. Để khắc phục những hạn chế đó, tiếp tục thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở có nhiều việc phải làm, song cần tập trung giải quyết những vấn đề cấp thiết và cơ bản lâu dài đang đặt ra hiện nay.

Một là, làm thông suốt nhận thức trong cán bộ đảng viên, nhân dân hiểu rõ bản chất vấn đề dân chủ và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở.

Khắc phục nhận thức lệch lạc, thiếu khoa học, thiếu khách quan, thiếu trách nhiệm của nhiều người đối với thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở. Họ coi nhẹ vấn đề này chỉ chăm lo làm ăn kinh tế thuần túy trước mắt, không thấy được thực hiện dân chủ thực sự sẽ phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân, động viên sức mạnh vật chất, tinh thần của nhân dân, phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội, khắc phục tình trạng suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng... làm trong sạch bộ máy của Đảng, Nhà nước và xã hội.

Hai là, quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc những quan điểm của Đảng về Quy chế Dân chủ ở cơ sở.

Hoàn thiện và thực hiện tốt cơ chế tổng thể “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Thực hiện tốt cả hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Cụ thể hóa, thể chế hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Thực hiện Nhà nước của dân, do dân, vì dân và quyền lực thực sự thuộc về nhân dân. Công khai minh bạch, công bằng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội có liên quan tới dân. Gắn dân chủ với phát triển dân sinh, dân trí, kỷ luật, kỷ cương, tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, kiên quyết chống tệ quan liêu, tham nhũng, cơ hội, bè cánh một cách thực sự có hiệu quả để gây lòng tin với nhân dân.

Ba là, các cấp bộ đảng nêu gương về dân chủ và lãnh đạo chặt chẽ quá trình phát huy dân chủ xã hội.

Phải chủ động chống quan liêu, gia trưởng, tham nhũng, lãng phí với sự tham gia đông đảo nhất của nhân dân,... Đó là một trong những biện pháp thực thi dân chủ hiệu quả nhất, đúng đắn nhất.
Trong Đảng phải thật sự dân chủ, cởi mở, tự do tư tưởng không lợi dụng chức quyền áp đặt. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, đấu tranh với các hành vi độc đoán chuyên quyền cũng như các hiện tượng vô tổ chức, vô kỷ luật... Cán bộ đảng viên phải thật sự vì dân, hy sinh quyền lợi cá nhân, lo trước nhân dân, hưởng sau nhân dân như Bác Hồ dạy, tránh tình trạng lợi dụng chức quyền vơ vét, thu vén để giàu có, sung sướng, hưởng lạc ở mức quá cao so với nhân dân.

Bốn là, tiếp tục hoàn thiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, sửa đổi những quy định không phù hợp, bổ sung những quy định cần thiết làm cho Quy chế có giá trị pháp lệnh cao nhưng lại dễ đi vào cuộc sống. Thể chế hóa các quy định bảo đảm thực hiện tốt cả hai hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.

Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cơ sở có đủ phẩm chất, năng lực tổ chức thực hiện Quy chế.

Một mặt, Đảng, Nhà nước đổi mới các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng và có chính sách đúng với cán bộ cơ sở. Mặt khác nhân dân sáng suốt lựa chọn, thẳng thắn nhận xét, đánh giá, có trách nhiệm xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở.

Sáu là, tạo ra những yếu tố bảo đảm thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở.

Đó là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của chính quyền, hoạt động của các đoàn thể quần chúng ở cơ sở. Có kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần nhân dân ở địa phương. Tăng cường công tác chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở. Thực hiện công khai, minh bạch, chống tham nhũng, lãng phí, cơ hội, tiêu cực... gây lòng tin thực sự, vững chắc trong nhân dân./.

Added (2010-03-29, 12:04 PM)
---------------------------------------------
Nếu pà kon đọc k được tô trắng là đọc được liền, hehehe

Added (2010-03-29, 12:16 PM)
---------------------------------------------
Chỉ thị của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở

Ngày 4/3, thay mặt Ban Bí thư Trung ương Đảng, ông Trương Tấn Sang đã ký ban hành Kết luận số 65-KL/TW của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở.

Sau khi xem xét báo cáo của Ban Chỉ đạo Trung ương về Tổng kết Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18/2/1998 của Bộ Chính trị (Khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, Ban Bí thư Trung ương Đảng kết luận như sau:

I. Tình hình thực hiện Chỉ thị:

1. Những kết quả đạt được:

Sau hơn 10 năm thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, cấp ủy, chính quyền, mặt trận, đoàn thể các các cấp đã có nhiều biện pháp chỉ đạo, triển khai sâu rộng, làm chuyển biến tích cực về nhận thức, quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở.

Quốc hội, Chính phủ đã thể chế hóa trong nhiều văn bản pháp quy về thực hiện Quy chế dân chủ cho một số loại hình cơ sở. Các cơ quan, đơn vị, cơ sở đã tích cực xây dựng quy chế, quy định; thôn, ấp, bản, làng, tổ dân phố xây dựng hương ước, quy ước thực hiện dân chủ trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.

Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở được gắn với phát triển kinh tế- xã hội, cải cách thủ thục hành chính, cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", các phong trào, các hoạt động văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh, trật tự ở cơ sở. Nhân dân đồng tình hưởng ứng và thực hiện có hiệu quả. Dân chủ và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, nhất là dân chủ trực tiếp của nhân dân tiếp tục được coi trọng, tăng cường.

Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã góp phần đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của mặt trận, các đoàn thể nhân dân; phát huy tính tiền phong, gương mẫu, chấn chỉnh phong cách, lề lối làm việc của cán bộ, công chức theo hướng sát dân, trọng dân và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân; góp phần quan trọng trong phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí; tăng cường đoàn kết, đồng thuận xã hội, củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; chống lại các âm mưu lợi dựng dân chủ, dân tộc, tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đạt được những kết quả nói trên là do chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở là đúng đắn, hợp lòng dân, đáp ứng được yêu câu của giai đoạn cách mạng mới. Ban Bí thư Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các cấp, các ngành thường xuyên quan tâm, chỉ đạo tổ chức thực hiện; ban hành các văn bản pháp quy để quy định và hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở các loại hình, các lĩnh vực hoạt động ở cơ sở; thường xuyên kiểm tra, sơ kết, tổng kết, chỉ đạo kịp thời. Hệ thống chính sách, pháp luật và chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan đảng, nhà nước tiếp tục được rà soát, bổ sung, hoàn thiện. Ban chỉ đạo ở các cấp được chú ý kiện toàn, hoạt động thường xuyên. Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể nhân dân ở các cấp đã tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.

2. Khuyết điểm, hạn chế

Nhìn chung, việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở được triển khai tích cực ở loại hình xã, phường, thị trấn; các loại hình cơ sở khác kết quả còn hạn chế.

Việc xây dựng và thực hiện các quy chế, quy ước, hương ước không ít nơi còn hình thức, chất lượng chưa cao, chưa thành nền nếp. Một số xã, phường, thị trấn chưa làm tốt việc công khai, dân chủ về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giá cả đền bù khi chuyển mục đích sử dụng đất, chính sách tái định cư. Không ít cơ quan thiếu công khai, dân chủ về quản lý thu, chi tài chính công, nâng lương, quy hoạch đào tạo, đề bạt cán bộ. Phần lớn các doanh nghiệp tư nhân, cơ sở dịch vụ ngoài công lập và một số doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn chưa xây dựng, thực hiện quy chế dân chủ cơ sở; thiếu công khai, dân chủ về sản xuất, kinh doanh, tiền lương, tiền thưởng và thực hiện chế độ bảo hiểm đối với người lao động.

Một số nơi nội bộ lãnh đạo cấp ủy, chính quyền mất đoàn kết; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chưa được ngăn chặn kịp thời; tình hình khiếu kiện của nông dân, đình công, bãi công của công nhân diễn biến phức tạp, ảnh hưởng không nhỏ đến lòng tin của nhân dân đối với cấp ủy, chính quyền.

Nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm trên là do: Nhận thức về dân chủ và trách nhiệm thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở của một số cấp ủy, chính quyền, cán bộ, công chức chưa đầy đủ, phong cách làm việc quan liêu, mất dân chủ, thiếu tôn trọng dân còn khá phổ biến trong cán bộ các cấp, các ngành.

Trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy đảng, đảng đoàn, ban cán sự đảng, của người đứng đầu chưa đầy đủ; không ít nơi chưa có ban chỉ đạo, chưa có người theo dõi kiểm tra, sơ kết, tổng kết, chỉ đạo thường xuyên; việc hướng dẫn, kiểm tra theo hệ thống ngành dọc chưa được coi trọng.

Việc rà soát, ban hành, bổ sung chính sách, cơ chế chưa đồng bộ, chưa kịp thời đáp ứng yêu cầu cuộc sống đặt ra, nhất là những chính sách có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của nhân dân như: Giá đền bù đất khi giải phóng mặt bằng, tái định cư, tiền lương, bảo hiểm xã hội, nhà ở của công nhân các khu công nghiệp...Một số văn bản pháp quy quy định về quy chế dân chủ cho một số loại hình, một số lĩnh vực còn thiếu, chưa kịp thời, chưa sát với thực tế, chậm được rà soát, bổ sung.

Mặt trận, các đoàn thể nhân dân một số nơi còn chậm đổi mới phương thức hoạt động, còn có xu hướng hành chính hóa; chưa thực sự đại diện cho quyền lợi, nguyện vọng của nhân dân; chưa tích cực tuyên truyền, vận động, tổ chức cho nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở.

II. Tiếp tục đẩy mạnh và thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở

1. Tiếp tục quán triệt, không ngừng nâng cao nhận thức; xác định rõ trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể chính trị- xã hội; của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân về những quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phát huy quyền làm chủ, mở rộng dân chủ trực tiếp của nhân dân ở cơ sở.

2. Tăng cường việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về dân chủ xã hội chủ nghĩa trong các quy định của pháp luật, chính sách cụ thể. Tổng kết, rà soát, bổ sung các văn bản đã ban hành; sớm nghiên cứu, ban hành pháp lệnh về xây dựng và thực hiện dân chủ cho các loại hình doanh nghiệp. Các cơ sở, các loại hình cần rà soát, bổ sung, xây dựng quy chế thực hiện dân chủ (xây dựng thành quy định, nguyên tắc, quy trình thực hiện dân chủ) trong các lĩnh vực hoạt động cụ thể của địa phương, đơn vị mình, nhất là các lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của nhân dân.

3. Gắn việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị; cải cách hành chính; cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; các phong trào thi đua yêu nước nhằm tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

4. Nâng cao trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính tri, phát huy cao vai trò làm chủ của nhân dân trong phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn, tiêu cực ở cơ sở; chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch kích động, chống đối, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị, trật tự xã hội.

5. Phát huy vai trò của ban chỉ đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, các cấp, các ngành trong việc hướng dẫn, đôn đốc, tham mưu cho cấp ủy kiểm tra, chỉ đạo thường xuyên; đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tổng kết lý luận và thực tiễn; coi trọng công tác tập huấn, bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện cán bộ, công chức về ý thức, trách nhiệm, phong cách, năng lực thực hiện dân chủ ở cơ sở và dân chủ với nhân dân.

6. Tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng; trách nhiệm của chính quyền, của người đứng đầu về thực hiện quy chế dân chủ; tiếp tục chỉ đạo cụ thể hóa phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" ở cơ sở. Phát huy vai trò của mặt trận, các đoàn thể nhân dân trong việc tuyên truyền và giám sát việc thực hiện; vận động nhân dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cơ sở.

III. Tổ chức thực hiện

- Các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy khối, đảng ủy trực thuộc trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy căn cứ nội dung Kết luận của Ban Bí thư Trung ương Đảng để cụ thể hóa thành chương trình công tác của cấp ủy, chỉ đạo triển khai và kiểm tra việc quán triệt, tổ chức thực hiện Kết luận này.

- Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo các cơ quan chức năng sớm nghiên cứu, ban hành pháp lệnh về thực hiện dân chủ trong hoạt động của các loại hình doanh nghiệp; chỉ đạo các cơ quan liên quan của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, các đoàn đại biểu Quốc hội tăng cường công tác giám sát việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở của các địa phương, đơn vị.

- Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo việc tổng kết các nghị định của Chính phủ đã ban hành về quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở; chỉ đạo việc sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản pháp quy về xây dựng, thực hiện Quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở, các lĩnh vực hoạt động xã hội; nhất là những loại hình, lĩnh vực hoạt động ở cơ sở thực hiện Quy chế dân chủ còn yếu, như trong hoạt động nghiên cứu khoa học, các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ ngoài công lập, các doanh nghiệp tư nhân...

- Các ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan liên quan ban hành văn bản hướng dẫn, kiểm tra, tổng kết việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở theo hệ thống ngành dọc.

- Giao Ban Dân vận Trung ương và Ban Chỉ đạo Trung ương về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và phối hợp với các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy khối, đảng ủy trực thuộc Trung ương hướng dẫn thực hiện Kết luận này.

- Các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương định kỳ báo cáo kết quả việc thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị và kết luận này về Ban Bí thư Trung ương Đảng qua Thường trực Ban Chỉ đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Trung ương; định kỳ 3 năm sơ kết, 5 năm tổng kết một lần.


Trên đời, có nhiều thứ quý hơn tiền, song lại được mua bằng tiền

 
hoanglaotaThời gian: Thứ hai, 2010-03-29, 4:27 PM | Số tin # 6
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
Vậy thì Phân tích tập trung dân chủ hay chỉ Dân chủ vậy nè!? ( wanwelun nhằm lẫn rồi! có Tập trung dân chủ đó nha)
bó tay. xem lại nhé, không thì coi chừng "đi lạc đường đấy nhé"
tongue
 
NgaThời gian: Thứ hai, 2010-03-29, 10:45 PM | Số tin # 7
Private
Nhóm: Đã kiểm tra
Bài viết: 14
Phần thưởng: 2
Đẳng cấp: 0
Trạng thái: Rời mạng
cho em hỏi là...em phải tóm lựơc một mớ này để làm thành bài thuyết trình của nhóm hả?
 
Diễn đàn » THÔNG TIN MÔN HỌC » Luật Hành Chính » BÀI TẬP NHÓM 3 (Thành viên nhóm thảo luận tại đây (nhóm Thanh Nga))
Page 1 of 11
Search: