giới thiệu tài liệu - Diễn đàn
[ New messages · Members · Forum rules · Search · RSS ]
Page 1 of 11
Diễn đàn » THÔNG TIN MÔN HỌC » TÀI SẢN VÀ QUYỀN SỞ HỮU (LUẬT DÂN SỰ 2) » giới thiệu tài liệu
giới thiệu tài liệu
hoanglaotaThời gian: Chủ Nhật, 2010-05-09, 11:53 AM | Số tin # 1
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
đây là tất cả phân tích nhận định, khái niệm giải thích ........................nằm ở đây hết. Tải về,,, giải nén và dành thời gian để xem trong đó nó có gì thì mới thấy hết công hiệu
http://www.mediafire.com/?e0zdjzngidf


Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Thứ hai, 2010-05-10, 10:09 PM
 
hoanglaotaThời gian: Chủ Nhật, 2010-05-09, 3:33 PM | Số tin # 2
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
Pháp luật Việt nam coi tiền là một loại tài sản riêng biệt. Loại tài sản này có những đặc điểm pháp lý khác với vật. Có thể liệt kê một số khác biệt giữa tiền với vật như sau:
Đối với vật thì chúng ta có thể khai thác công dụng hữu ích từ chính vật đó (dùng nhà để ở, dùng xe máy để đi lại, dùng bút để viết, …). Còn đối với tiền thì không thể khai thác công dụng hữu ích từ chính tờ tiền hay đồng tiền xu đó. Tiền thực hiện ba chức năng chính là: công cụ thanh toán đa năng, công cụ tích lũy tài sản và công cụ định giá các loại tài sản khác. Khái niệm “quyền sử dụng” chỉ được áp dụng một cách trọn vẹn cho vật chứ không áp dụng được cho tiền.
Các vật thông thường có thể do rất nhiều chủ thể khác nhau tạo ra, còn tiền do Nhà nước độc quyền phát hành. Việc phát hành tiền được coi là một trong những biểu hiện của chủ quyền của mỗi quốc gia.
Vật được xác định số lượng bằng những đơn vị đo lường thông dụng, còn tiền lại được xác định số lượng thông qua mệnh giá của nó.
Chủ sở hữu vật được toàn quyền tiêu hủy vật thuộc sở hữu của mình, còn chủ sở hữu tiền lại không được tiêu hủy tiền (không được xé, đốt, sửa chữa, thay đổi hình dạng, kích thước, làm giả,…).
Dưới góc độ kinh tế thì việc sử dụng tiền được hiểu thông qua hành vi đầu tư tiền vào các hoạt động kinh doanh (mua bán thiết bị, cho vay lấy lãi, góp vốn, …) hay tiêu dùng. Nhưng dưới góc độ luật dân sự thì các hành vi đầu tư hay tiêu dùng đó lại phải được hiểu là hành vi thực hiện quyền định đoạt tiền (chuyển giao quyền sở hữu tiền cho chủ thể khác), chứ không phải là thực hiện quyền sử dụng.
Dưới góc độ kinh tế, việc gửi tiền vào các tổ chức tín dụng (gửi tiền vào tài khoản của mình trong Ngân hàng) thường được coi là hành vi cất giữ tiền của mình. Còn dưới góc độ luật dân sự thì việc gửi tiền vào Ngân hàng hay các tổ chức tín dụng lại phải luôn được hiểu là hợp đồng cho vay tài sản. Bởi lẽ sau khi gửi vào Ngân hàng thì chính Ngân hàng sẽ trở thành chủ sở hữu khoản tiền đó và phải chịu rủi ro đối với nó. Người gửi khi đó chấm dứt quyền sở hữu đối với số tiền vừa gửi, trở thành bên cho vay, có quyền yêu cầu Ngân hàng thanh toán khoản tiền khác tương đương theo thời hạn thỏa thuận. Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà hợp đồng vay đó có thể có thời hạn hoặc không thời hạn, có thể có lãi hoặc không có lãi.
Nói cách khác, dưới góc độ kinh tế thì không có sự khác biệt cơ bản về bản chất giữa tiền mặt với tiền trong tài khoản, nhưng dưới góc độ luật dân sự thì “tiền trong tài khoản” lại được hiểu là quyền tài sản (quyền yêu cầu) – một loại tài sản khác chứ không phải là tiền.
Trong pháp luật dân sự, tiền có tính năng đặc biệt (khác với vật) là khi chuyển giao tiền thì bao giờ cũng kèm theo chuyển giao quyền sở hữu, trừ trường hợp khi chuyển giao ta đặc định hóa gói tiền thông qua việc niêm phong gói tiền lại.
Chúng ta cũng nên phân biệt giữa nội tệ và ngoại tệ. Dưới góc độ kinh tế thì nội tệ hay ngoại tệ cũng đều là tiền cả. Cách phân loại tiền thành nội tệ và ngoại tệ hoàn toàn phụ thuộc vào góc độ nhìn nhận của từng quốc gia: một loại tiền được coi là nội tệ của quốc gia phát hành và là ngoại tệ đối với các quốc gia khác. Trong pháp luật dân sự thì ngoại tệ không được coi là tiền, bởi lẽ ngoại tệ không bao giờ được coi là công cụ thanh toán đa năng – một tính năng quan trọng nhất của tiền. Ngoại tệ phải được coi là một loại tài sản đặc biệt, thuộc nhóm hàng hóa hạn chế lưu thông. Chỉ những chủ thể nhất định (ngân hàng hay các tổ chức tín dụng khác, các tổ chức có chức năng hoạt động ngoại thương, …) mới được phép xác lập giao dịch đối với nó.
Vấn đề khó giải quyết nhất là: nếu ngoại tệ không phải là tiền thì liệu ta sẽ nên xếp ngoại tệ vào loại tài sản nào trong số các loại tài sản được quy định tại Điều 172 Bộ luật Dân sự (vật, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền, quyền tài sản)? Ngoại tệ cũng không nên coi là vật, bởi lẽ ta cũng không thể khai thác công dụng hữu ích từ chính tờ ngoại tệ được. Ngoại tệ cũng không nên coi là giấy tờ trị giá được bằng tiền hay quyền tài sản, bởi lẽ ta sẽ không xác định được ai là chủ thể nghĩa vụ trong đó. Phải chăng khó khăn đó xuất phát từ chính nguyên nhân rằng khái niệm tài sản (theo cách liệt kê khép kín được quy định tại Điều 172 Bộ luật Dân sự) còn quá hạn hẹp. Qua đó ta cũng nhận thấy nhu cầu bắt đầu phải xây dựng cách hiểu rộng hơn nữa cho khái niệm tài sản (sao cho trong đó có thể bao quát được cả ngoại tệ và cả một số các đối tượng phức tạp khác của giao dịch dân sự như nhà máy xí nghiệp, hệ thống mô hình dịch vụ,…).
nguồn Pháp luật Việt nam coi tiền là một loại tài sản riêng biệt. Loại tài sản này có những đặc điểm pháp lý khác với vật. Có thể liệt kê một số khác biệt giữa tiền với vật như sau:
Đối với vật thì chúng ta có thể khai thác công dụng hữu ích từ chính vật đó (dùng nhà để ở, dùng xe máy để đi lại, dùng bút để viết, …). Còn đối với tiền thì không thể khai thác công dụng hữu ích từ chính tờ tiền hay đồng tiền xu đó. Tiền thực hiện ba chức năng chính là: công cụ thanh toán đa năng, công cụ tích lũy tài sản và công cụ định giá các loại tài sản khác. Khái niệm “quyền sử dụng” chỉ được áp dụng một cách trọn vẹn cho vật chứ không áp dụng được cho tiền.
Các vật thông thường có thể do rất nhiều chủ thể khác nhau tạo ra, còn tiền do Nhà nước độc quyền phát hành. Việc phát hành tiền được coi là một trong những biểu hiện của chủ quyền của mỗi quốc gia.
Vật được xác định số lượng bằng những đơn vị đo lường thông dụng, còn tiền lại được xác định số lượng thông qua mệnh giá của nó.
Chủ sở hữu vật được toàn quyền tiêu hủy vật thuộc sở hữu của mình, còn chủ sở hữu tiền lại không được tiêu hủy tiền (không được xé, đốt, sửa chữa, thay đổi hình dạng, kích thước, làm giả,…).
Dưới góc độ kinh tế thì việc sử dụng tiền được hiểu thông qua hành vi đầu tư tiền vào các hoạt động kinh doanh (mua bán thiết bị, cho vay lấy lãi, góp vốn, …) hay tiêu dùng. Nhưng dưới góc độ luật dân sự thì các hành vi đầu tư hay tiêu dùng đó lại phải được hiểu là hành vi thực hiện quyền định đoạt tiền (chuyển giao quyền sở hữu tiền cho chủ thể khác), chứ không phải là thực hiện quyền sử dụng.
Dưới góc độ kinh tế, việc gửi tiền vào các tổ chức tín dụng (gửi tiền vào tài khoản của mình trong Ngân hàng) thường được coi là hành vi cất giữ tiền của mình. Còn dưới góc độ luật dân sự thì việc gửi tiền vào Ngân hàng hay các tổ chức tín dụng lại phải luôn được hiểu là hợp đồng cho vay tài sản. Bởi lẽ sau khi gửi vào Ngân hàng thì chính Ngân hàng sẽ trở thành chủ sở hữu khoản tiền đó và phải chịu rủi ro đối với nó. Người gửi khi đó chấm dứt quyền sở hữu đối với số tiền vừa gửi, trở thành bên cho vay, có quyền yêu cầu Ngân hàng thanh toán khoản tiền khác tương đương theo thời hạn thỏa thuận. Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà hợp đồng vay đó có thể có thời hạn hoặc không thời hạn, có thể có lãi hoặc không có lãi.
Nói cách khác, dưới góc độ kinh tế thì không có sự khác biệt cơ bản về bản chất giữa tiền mặt với tiền trong tài khoản, nhưng dưới góc độ luật dân sự thì “tiền trong tài khoản” lại được hiểu là quyền tài sản (quyền yêu cầu) – một loại tài sản khác chứ không phải là tiền.
Trong pháp luật dân sự, tiền có tính năng đặc biệt (khác với vật) là khi chuyển giao tiền thì bao giờ cũng kèm theo chuyển giao quyền sở hữu, trừ trường hợp khi chuyển giao ta đặc định hóa gói tiền thông qua việc niêm phong gói tiền lại.
Chúng ta cũng nên phân biệt giữa nội tệ và ngoại tệ. Dưới góc độ kinh tế thì nội tệ hay ngoại tệ cũng đều là tiền cả. Cách phân loại tiền thành nội tệ và ngoại tệ hoàn toàn phụ thuộc vào góc độ nhìn nhận của từng quốc gia: một loại tiền được coi là nội tệ của quốc gia phát hành và là ngoại tệ đối với các quốc gia khác. Trong pháp luật dân sự thì ngoại tệ không được coi là tiền, bởi lẽ ngoại tệ không bao giờ được coi là công cụ thanh toán đa năng – một tính năng quan trọng nhất của tiền. Ngoại tệ phải được coi là một loại tài sản đặc biệt, thuộc nhóm hàng hóa hạn chế lưu thông. Chỉ những chủ thể nhất định (ngân hàng hay các tổ chức tín dụng khác, các tổ chức có chức năng hoạt động ngoại thương, …) mới được phép xác lập giao dịch đối với nó.
Vấn đề khó giải quyết nhất là: nếu ngoại tệ không phải là tiền thì liệu ta sẽ nên xếp ngoại tệ vào loại tài sản nào trong số các loại tài sản được quy định tại Điều 172 Bộ luật Dân sự (vật, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền, quyền tài sản)? Ngoại tệ cũng không nên coi là vật, bởi lẽ ta cũng không thể khai thác công dụng hữu ích từ chính tờ ngoại tệ được. Ngoại tệ cũng không nên coi là giấy tờ trị giá được bằng tiền hay quyền tài sản, bởi lẽ ta sẽ không xác định được ai là chủ thể nghĩa vụ trong đó. Phải chăng khó khăn đó xuất phát từ chính nguyên nhân rằng khái niệm tài sản (theo cách liệt kê khép kín được quy định tại Điều 172 Bộ luật Dân sự) còn quá hạn hẹp. Qua đó ta cũng nhận thấy nhu cầu bắt đầu phải xây dựng cách hiểu rộng hơn nữa cho khái niệm tài sản (sao cho trong đó có thể bao quát được cả ngoại tệ và cả một số các đối tượng phức tạp khác của giao dịch dân sự như nhà máy xí nghiệp, hệ thống mô hình dịch vụ,…).

nguồn sinhvienluat.vn

Bài viết được chỉnh sửa bởi hoanglaota - Chủ Nhật, 2010-05-09, 3:39 PM
 
hoanglaotaThời gian: Chủ Nhật, 2010-05-09, 3:38 PM | Số tin # 3
Lieutenant colonel
Nhóm: Administrators
Bài viết: 116
Phần thưởng: 6
Trạng thái: Rời mạng
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có được coi là tài sản?

Trong đời sống hàng ngày, thông qua các giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật, chúng ta có được thửa đất để khai thác, sử dụng phục vụ cuộc sống. Người có quyền sử dụng lô đất đó, được cơ quan Nhà nước làm thủ tục và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhiều người còn gọi giấy này là bìa đất, sổ đỏ. Và một khi cần vay tiền ở các ngân hàng, người có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến làm thủ tục thế chấp vay tiền. Từ thực tế này, một số người vì thế mà quan niệm rằng, giấy này là tài sản, vì việc thế chấp nó, được nhận tài sản khác ở ngân hàng, là tiền mặt Việt Nam đồng. Có một số trường hợp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị mất trộm, chủ nhân của nó đến cơ quan Công an trình báo, là mất tài sản và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật. Để giúp bạn đọc, nhìn nhận đúng bản chất vấn đề này, bài viết xin đề cập từ khía cạnh pháp lý và thực tiễn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong các tình huống pháp lý đặc trưng, thông dụng dưới đây:

Trong đời sống hàng ngày, thông qua các giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật, chúng ta có được thửa đất để khai thác, sử dụng phục vụ cuộc sống. Người có quyền sử dụng lô đất đó, được cơ quan Nhà nước làm thủ tục và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhiều người còn gọi giấy này là bìa đất, sổ đỏ. Và một khi cần vay tiền ở các ngân hàng, người có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến làm thủ tục thế chấp vay tiền. Từ thực tế này, một số người vì thế mà quan niệm rằng, giấy này là tài sản, vì việc thế chấp nó, được nhận tài sản khác ở ngân hàng, là tiền mặt Việt Nam đồng. Có một số trường hợp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị mất trộm, chủ nhân của nó đến cơ quan Công an trình báo, là mất tài sản và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật. Để giúp bạn đọc, nhìn nhận đúng bản chất vấn đề này, bài viết xin đề cập từ khía cạnh pháp lý và thực tiễn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong các tình huống pháp lý đặc trưng, thông dụng dưới đây:

Theo quy định tại Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005, thì tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Như vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vật, bởi vì, hiểu theo tiêu chí lý học, thì vật là một đối tượng tồn tại, được xác định bằng các đơn vị đo lường, với hình thức, tính chất lý hóa. Đây chính là tờ giấy ghi nhận trên bề mặt của nó các ký tự, thông tin về thửa đất và về người có quyền sử dụng thửa đất đó. Nói cách khác, quyền sử dụng thửa đất, là quyền về tài sản, nó là tài sản được ghi nhận ở tấm giấy này. Còn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không phải là tài sản, nếu tờ giấy này bị mất trộm, thì không được coi là bị mất tài sản, nên cơ quan điều tra không khởi tố vụ án, với tội danh trộm cắp tài sản quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Phải hiểu, chỉ có quyền sử dụng đất là quyền tài sản, do vậy, quyền này là tài sản. Và quyền tài sản này, không thể bị kẻ trộm đánh cắp được. Thực chất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chỉ là một văn bản chứng quyền, cho nên không thể coi nó là tài sản, và cũng không thể xem nó là loại giấy tờ có giá trong thanh toán, trao đổi.

Trong thực tiễn đời sống, khi chúng ta mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có thể do bị trộm cắp, có thể do thất lạc, rơi… thì phải làm đơn trình báo và làm các thủ tục liên quan, để cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, tiến hành làm thủ tục cấp lại. Nếu xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản, thì khi tài sản này bị mất, và chỉ với các thủ tục trình báo, xin cấp lại thông thường như trên, mà được cơ quan có thẩm quyền, cấp lại tài sản đã mất là hoàn toàn vô lý. Còn việc thế chấp giấy này ở ngân hàng để vay tiền, đây là một loại giao dịch dân sự hợp pháp, đối tượng của giao dịch này là, thế chấp quyền sử dụng đất, chứ không phải thế chấp tờ giấy có in, có viết các ký tự về thửa đất, về người sử dụng đất, trên mặt của nó. Cần nhận thức rằng, vật chỉ được coi là tài sản, khi nó được dùng trong quan hệ dân sự, và có giá trị thanh toán, trao đổi ngang giá với vật khác, theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

Vậy, trong trường hợp nào, thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vật, được coi là tài sản? Trong giao dịch dân sự mua và bán, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đối tượng của mua bán, là hàng hóa. Đó là, khi chúng ta mua bán giấy này là giấy loại chẳng hạn, thì người mua phải trả cho người bán, một số tiền cụ thể theo thỏa thuận đôi bên. Lúc này, tờ giấy loại này, là vật vì tính được bằng tiền, nên nó là tài sản, là đối tượng của mua bán, với tên gọi là tờ giấy loại, bán, mua giấy loại, giấy phế liệu. Người mua chỉ mua tờ giấy, tính bằng lạng, bằng kilôgam, chứ không mua các quyền về tài sản được ghi nhận trên tờ giấy. Tương tự, người bán cũng chỉ bán tờ giấy, chứ không bán cái quyền được ghi nhận chuyển tải trên tờ giấy đó.

Tội trộm cắp tài sản quy định ở Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, thì đối tượng tác động của tội phạm là tài sản, nói cách khác, cái mà người phạm tội lấy cắp là tài sản. Do vậy, khi một người bị mất cắp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và làm đơn báo đến cơ quan điều tra, thì các cơ quan này không ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, vì sự kiện pháp lý này không cấu thành tội phạm.

 
Diễn đàn » THÔNG TIN MÔN HỌC » TÀI SẢN VÀ QUYỀN SỞ HỮU (LUẬT DÂN SỰ 2) » giới thiệu tài liệu
Page 1 of 11
Search: