Xác định vị trí của Luật Thương mại 2005 và luận bàn việc có nên xây dựng một văn bản pháp luật như Luật Thương mại hay không? - My files - Tài liệu chia sẻ - Công ty TNHH Xây dựng - Trang trí nội thất Gia Thịnh
Main » Files » My files

Xác định vị trí của Luật Thương mại 2005 và luận bàn việc có nên xây dựng một văn bản pháp luật như Luật Thương mại hay không?
2010-07-22, 4:24 PM
Xác định vị trí của Luật Thương mại 2005 và luận bàn việc có nên xây dựng một văn bản pháp luật như Luật Thương mại hay không?
13/06/2008, 08:55 AM

TS. Dương Anh Sơn
Cố vấn cao cấp của Sài Gòn Luật
Khoa Kinh tế, Đại học quốc gia Tp. HCM

TS. Nguyễn Thành Đức
Khoa Kinh tế, Đại học quốc gia Tp. HCM

1. Để nền kinh tế thị trường có thể vận hành một cách có hiệu quả cần thiết phải thiết kế và xây dựng một cơ chế pháp luật khác với cơ chế pháp luật được sử dụng trong nền kinh tế phi thị trường trước đây. Một bộ phận quan trọng của cơ chế pháp lý đó chính là hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh thương mại. Hiểu rõ được điều đó nên trong những năm vừa qua chúng ta đã không ngừng xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật trong lĩnh vực này. Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng giá trị áp dụng của nhiều văn bản pháp luật vẫn rất hạn chế vì nhiều lý do khác nhau. Theo chúng tôi, một trong những lý do đó là tư duy và kỹ thuật lập pháp của chúng ta hình như vẫn chịu sự ảnh hưởng của thời kỳ kinh tế bao cấp kéo dài và đặc biệt là chịu sự ảnh hưởng của việc phân chia hệ thống pháp luật thành các ngành luật. Cần phải nhìn nhận rằng, việc hệ thống pháp luật được phân chia thành các ngành luật như ở Việt Nam hiện nay và ở Liên xô trước đây, hay được phân chia thành hai lĩnh vực luật công và luật tư như ở các nước châu Âu lục địa, hay coi pháp luật là một thể thống nhất và không có sự phân chia thành các ngành luật hay luật công và luật tư như các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ, là hoàn toàn do truyền thống pháp luật của mỗi một nước. Tôi cho rằng việc xây dựng Luật thương mại 1997 cũng chịu sự tác động, ảnh hưởng của sự phân chia hệ thống pháp luật Việt Nam thành các ngành luật riêng biệt. Chúng ta, có lẽ ai cũng biết được rằng, ngay sau khi mới được ban hành, Luật thương mại 1997 đã bộc lộ những bất cập và vì vậy trong suốt thời gian tồn tại của mình nó hầu như không được áp dụng với tư cách là một công cụ pháp lý điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động kinh doanh thương mại mà nguyên nhân của nó đã được giới luật học bình luận, mổ xẻ nhiều trong suốt một thời gian gian dài.

2. Luật thương mại 2005 được thông qua và bắt đầu có hiệu lực từ 1.1.2006 làm cho nhiều người kỳ vọng rằng với nhiều sửa đổi và bổ sung, nó sẽ thực sự đi vào cuộc sống và phát huy được hiệu quả áp dụng của mình. Kỳ vọng là vậy, tuy nhiên ngay sau khi mới được ban hành, đã có khá nhiều ý kiến trái ngược nhau về chất lượng và đặc biệt là vị trí của nó trong hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam. Một số ý kiến cho rằng, Luật thương mại 2005 có nhiều điểm mới, tiến bộ so với Luật thương mại 1997 (1). Thật vậy, so với Luật thương mại 1997, phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại 2005 không còn bị giới hạn bởi 14 hành vi thương mại mà đã được mở rộng, có nhiều nội dung mới hơn. Theo quy định của khoản 1 Điều 3 thì hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác, điều này có nghĩa là phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại 2005 là tất cả các hoạt động sinh lơi. Có ý kiến khác lại cho rằng, Luật thương mại 2005 chỉ giới hạn phạm vi điều chỉnh trong các lĩnh vực thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ là quá hẹp, không phù hợp với thông lệ quốc tế. Giữa khoản 1 Điều 3 và các hành vi thương mại được Luật thương mại điều chỉnh có sự không nhất quán. Cũng những ý kiến đó cho rằng, hiện nay thuật ngữ thương mại cần phải được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả lĩnh vực đầu tư, thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, vì vậy phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại phải bao gồm cả các lĩnh vực thương mại đầu tư, thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Vì những lý do nói trên nên cần thiết phải coi Luật thương mại là luật chung để điều chỉnh hoạt động kinh doanh thương mại, trên cơ sở Luật thương mại có thể xây dựng các Luật chuyên ngành (2). Quan điểm này trong một chừng mực nào đó là có cơ sở. Bởi vì khi xem xét nội dung của Luật thương mại 2005 chúng ta thấy rằng, đạo luật này chủ yếu chỉ điều chỉnh các hoạt động trong lĩnh vực thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ và một hoạt động thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ-hợp đồng nhượng quyền thương mại. Và nếu như vậy trong lĩnh vực kinh doanh thương mại câu chuyện luật chung và luật chuyên ngành lại một lần nữa được đặt ra

Về loại ý kiến thứ nhất, chúng tôi đã có dịp đề cập trong một bài viết trước đây (3). Rõ ràng khó có thể phủ nhận rằng, so với Luật thương mại 1997, Luật thương mại 2005 có tiến bộ hơn. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến loại ý kiến thứ hai, và đưa ra những quan điểm riêng của mình. Chúng tôi cho rằng, để có sự đánh giá một cách tương đối toàn diện ví trí của Luật thương mại 2005 và sau đó là giải quyết vấn đề: có thực sự cần thiết phải có Luật thương mại với tư cách là một văn bản pháp luật hay không thì cần phải xác định: i) mối quan hệ của Luật thương mại 2005 với Bộ luật dân sự 2005 có phải là mối quan hệ giữa luật chuyên ngành và luật chung; ii) mối quan hệ giữa Luật thương mại với các luật khác trong hoạt động kinh doanh thương mại là mối quan hệ gì và được xác định như thế nào? Trên cơ sở giải quyết những vấn đề nói trên chúng tôi sẽ đề cập đến vấn đề: thay vì xây dựng và ban hành Luật thương mại như cách làm của chúng ta, có nên xây dựng và ban hành các luật khác nhau để điều chỉnh từng lĩnh vực cụ thể trong hoạt động kinh doanh thương mại thì sẽ tốt hơn chăng?

3. Việc nghiên cứu phạm vi và đối tượng điều chỉnh của Luật thương mại 2005 cho thấy rằng, các nhà làm luật trong một chừng mực nào đó đã xác định được vị trí của Luật thương mại 2005 trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tuy nhiên vị trí của nó được xác định cũng chưa thật được rõ ràng, vì nhiều lý do khác nhau, trước hết là chưa xác định rõ mối quan hệ của nó với Bộ luật dân sự 2005. Điều này, tôi cho rằng, rất có thể là do có sự nhầm lẫn giữa Luật thương mại với Luật dân sự với tư cách là các văn bản pháp luật và với tư cách là hai lĩnh vực của luật tư. Chúng tôi cho rằng, để xác định một cách rõ ràng mối quan hệ giữa Bộ luật dân sự và Luật thương mại thì cần thiết phải giải quyết đồng thời một cách tổng thể các vấn đề sau: i) Luật thương mại và Luật dân sự cùng có chung nguồn gốc hay không? ii) Luật thương mại nên được hiểu là một văn bản pháp luật hay là một lĩnh vực của pháp luật bao gồm nhiều văn bản pháp luật khác nhau cùng điều chỉnh việc tổ chức và hoạt động kinh doanh thương mại.

Trong khoa học pháp lý nói chung và ở Việt Nam nói riêng hiện đang tồn tại quan điểm, theo đó Luật dân sự được coi là luật chung và Luật thương mại là luật chuyên ngành và là một bộ phận của Luật dân sự và mối quan hệ giữa các quy phạm của Luật dân sự và luật thương mại là mối quan hệ giữa quy phạm chung và quy phạm chuyên ngành. Quan điểm này được giải tích bởi đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự bao gồm i) quan hệ tài sản và ii) quan hệ nhân thân phi tài sản, và đối tượng điều chỉnh của luật thương mại cũng là các quan hệ tài sản, tức là cả Luật dân sự và Luật thương mại đều có cùng một nguồn gốc-Luật dân sự La Mã. Cũng chính vì lý do đó mà những người có quan điểm này cho rằng, các quy định của Luật thương mại phải phù hợp và thống nhất với các quy định của Bộ luật dân sự, và có chức năng bổ sung cho Luật dân sự.

Nhiều người lại có quan điểm khác, theo đó Luật thương mại là Luật chỉ dành cho thương nhân. Mặc dù cũng có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ tài sản, tuy nhiên các quan hệ tài sản được Luật thương mại điều chỉnh chỉ phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt trong hoạt động kinh doanh thương mại. Luật thương mại được hiểu với tư cách là một lĩnh vực của pháp luật, theo quan điểm của chúng tôi, có thể được phân thành hai loại: loại thứ nhất bao gồm các quy phạm có nguồn gốc từ luật dân sự, được áp dụng chung để điều chỉnh các quan hệ dân sự thuần túy và các quan hệ kinh doanh thương mại. Điều này được lý giải bởi việc: vì cùng là quan hệ tài sản nên chúng có nhiều điểm giống nhau và những điểm giống nhau này được điều chỉnh cùng một loại quy phạm và chúng thường được quy định trong Bộ luật dân sự; loại thứ hai chỉ được hình thành trong hoạt động kinh doanh thương mại và chỉ được áp dụng chỉ để điều chỉnh các quan hệ kinh doanh thương mại mà thôi.

Loại thứ nhất bao gồm các quy phạm được áp dụng chung để điều chỉnh các quan hệ dân sự và cả các quan hệ thương mại. Ví dụ, nhiều quy định điều chỉnh việc ký kết hợp đồng, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, tức là những quy định mang tính nguyên tắc, và các quan hệ mua bán, trao đổi, ủy quyền, đại diện…Các quy định thuộc loại này thường chỉ được quy định trong Bộ luật dân sự để đảm bảo sự thống nhất của pháp luật, ví dụ, pháp luật về hợp đồng. Trong nhiều trường hợp chúng cũng có thể được quy định ngay cả trong Luật thương mại. Tuy nhiên theo nguyên tắc, các quy định loại này trong Luật thương mại phải phù hợp và thống nhất với Bộ luật dân sự. Có lẽ chính vì điều này mà quan điểm, theo đó Luật dân sự là luật chung, Luật thương mại là luật chuyên ngành,và các quy phạm của Luật thương mại có chức năng bổ sung cho Luật dân sự, được xây dựng. Liên quan đến vấn đề này, khi xem xét kỹ Bộ luật dân sự và Luật thương mại Việt Nam 2005, tôi thấy có một số điểm cần phải có sự suy xét thêm. Thứ nhất, có nhiều vấn đề vừa được quy định trong Bộ luật dân sự vừa được quy định trong Luật thương mại và vấn đề đáng nói ở đây là giữa chúng có sự thống nhất ở mức độ tương đối cao. Ví dụ, các quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa trong Luật thương mại cơ bản thống nhất với các quy định điều chỉnh hợp dồng mua bán tài sản trong Bộ luật dân sự, các quy định về hợp đồng đại diện cho thương nhân trong Luật thương mại về cơ bản là giống với các quy định hợp đồng ủy quyền trong Bộ luật dân sự; hay các quy định về hợp đồng thuê hàng hóa trong Luật thương mại giống với các quy định về hợp đồng thuê tài sản trong Bộ luật dân sự. Thực vậy, khó có thể tìm được sự khác biệt giữa các quy định về hợp đồng ủy quyền với hợp đồng đại diện cho thương nhân, có lẽ điểm khác nhau duy nhất giữa chúng có lẽ là chủ thể của hợp đồng. Cũng khó có thể tìm thấy sự khác biệt giữa các quy định về hợp đồng thuê tài sản với các quy định về hợp đồng thuê hàng hóa. Theo quy định của Điều 480 Bộ luật dân sự 2005, hợp đồng thuê tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, còn bên thuê phải trả tiền thuê, còn theo quy định của Điều 269 Luật thương mại 2005, cho thuê hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó một bên chuyển quyền chiếm hữu và sử dụng hàng hóa (gọi là bên cho thuê) cho bên khác (gọi là bên thuê) trong một thời hạn nhất định để nhận tiền thuê. Có thể nhận thấy rằng, mặc dù cách sử dụng từ ngữ không giống nhau nhưng bản chất của chúng hoàn toàn giống nhau.

Tôi cho rằng, những quy định trong Bộ luật dân sự 2005 không cần thiết phải lặp lại trong trong Luật thương mại 2005. Bởi vì nếu sự lặp lại đó vẫn bảo đảm được tính thống nhất của pháp luật thì không sao, bởi chỉ đơn giản là thừa, còn nếu lặp lại nhưng không có sự thống nhất thì sẽ gây ra rất nhiều khó khăn khi áp dụng. Ví dụ, mức phạt vi phạm và mối liên hệ giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 422 Bộ luật dân sự 2005 và tại các Điều 301 và 307 Luật thương mại 2005 hoàn toàn không có sự thống nhất. Điều này có lẽ do “tính chất cát cứ và cục bộ trong việc soạn thảo (rồi ban hành) của các văn bản pháp luật nói chung” (4). Về vấn đề này chúng tôi đã có sự luận bàn trong một bài viết trước đây (5). Theo chúng tôi, sự không thống nhất này sẽ gây rất nhiều khó khăn cho việc áp dụng pháp luật, bởi vì trong rất nhiều trường hợp không thể xác định được hợp đồng thương mại hay hợp đồng dân sự (6). Theo chúng tôi, đây là một trong những lý do để có thể nói rằng, kỹ thuật và tư duy xây dựng Luật thương mại 2005 cần phải được xem xét và luận bàn thêm.

Loại thứ hai, như đã nói ở trên, bao gồm những quy phạm được hình thành trong hoạt động kinh doanh thương mại và theo chúng tôi, chúng được chia thành hai nhóm.

Nhóm thứ nhất là những quy phạm có nguồn gốc ban đầu từ Luật dân sự, tuy nhiên cùng với sự phát triển và do đặc thù của hoạt động kinh doanh thương mại chúng trở nên có tính dị biệt và khác với các quy phạm của Luật dân sự. Các quy định của Luật thương mại trở nên dị biệt so với các quy định của luật dân sự là do các nguyên nhân sau đây: i) quan hệ trong hoạt động kinh doanh thương mại ít chịu sự ảnh hưởng của truyền thống, phong tục tập quán của dân tộc, của quốc gia như các quan hệ dân sự. Rõ ràng, nhiều quy định của Luật dân sự được xây dựng để điều chỉnh các mối quan hệ, các quan hệ này chịu sự tác động của đạo đức, truyền thống, tôn giáo. ii) Các quy định của Luật dân sự trở nên có tính dị biệt bởi chúng chịu sự tác động của hoạt động đặc thù của các thương gia-nhà buôn. Các quy phạm của luật dân sự yêu cầu các chủ thể của quan hệ pháp luật phải thực hiện các hành vi mang tính thủ tục phức tạp, nhiều khi chỉ mang tính hình thức không cần thiết, vì vậy chúng không thể đáp ứng được nhu cầu chủ yếu của hoạt động kinh doanh thương mại, tức là xây dựng các điều kiện để việc trao đổi hàng hóa được thực hiện nhanh chóng và đảm bảo nhất.

4. Một điều có lẽ ai cũng biết đó là luật thương mại chỉ xuất hiện trong điều kiện khi hoạt động kinh doanh thương mại phát triển và ngày càng trở nên phức tạp hơn. Tầng lớp thương gia, trong hoạt động nghề nghiệp của mình, đã sử dụng các tập quán được hình thành trong hoạt động của họ, trước hết là trong phạm vi một cộng đồng, sau đó được mở rộng ra toàn thành phố. Như vậy luật cho hoạt động thương mại dần dần được hình thành và ban đầu luật này chỉ dành cho tầng lớp nhà buôn và được gọi là luật của thương gia (Jus mercaturae). Những quy phạm được hình thành trong hoạt động buôn bán được truyền từ đời này qua đời khác, từ đời cha đến đời con, với tư cách là tập quán trước hết là trong phạm vi của một hội buôn, sau đó, cùng với sự phát triển của hoạt động thương mại, chúng trở thành quy phạm chung cho tất cả thương gia của một thành phố. Khi hoạt động kinh doanh thương mại phát triển vượt ra ngoài phạm vi của một thành phố thì đồng thời cũng diễn ra quá trình mở rộng phạm vi hiệu lực của các quy phạm tập quán về không gian cũng như chủ thể. Tập quán của thương gia dần được áp dụng để điều chỉnh quan hệ không những giữa các thương gia mà còn điều chỉnh các quan hệ giữa những người khác khi họ tham gia vào các quan hệ có tính chất thương mại, và như vậy dần dần luật của nhà buôn trở thành luật thương mại (jus mercatorum). Chúng tôi cho rằng, nhóm này bao gồm các quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động đại lý thương mại, mua bán hàng hóa qua sở giao dịch, giám định hàng hóa, nhượng quyền thương mại, dịch vụ Logistics… Những hoạt động nói trên đều được quy định trong Luật thương mại 2005. Tuy nhiên như chúng ta biết, mỗi một loại hoạt động thương mại nói trên chỉ được Luật dành cho một số lượng rất ít điều khoản và tất nhiên chúng không thể sử dụng được, không thể đi vào cuộc sống nếu như Chính phủ không ban hành các Nghị định hướng dẫn thi hành- mỗi một loại hoạt động thương mại cần phải có một Nghị định hướng dẫn thi hành. Theo quan điểm của chúng tôi, kỹ thuật và tư duy lập pháp trong việc xây dựng và ban hành Luật thương mại 2005 theo hướng này có một số điểm cần phải đáng bàn như sau:

Thứ nhất, vì các quy định của Luật thương mại cho từng loại hoạt động thương mại nói trên quá chung chung nên trong thực tiễn Nghị định là văn bản chủ yếu được áp dụng. Ở đây Nghị định không còn được coi là có chức năng hướng dẫn thi hành Luật mà đã thực hiện chức năng thay luật. Và hậu quả là Nghị định dẫn đi đâu luật theo đó tùy thuộc vào ý chí của Chính phủ mà không phải của nhà làm luật-Quốc hội. Ở đây chúng tôi không bàn đến thẩm quyền ban hành văn bản mà chỉ đề cập đến chất lượng của văn bản pháp luật. Chúng ta đều biết rằng, quy trình soạn thảo và ban hành Luật chặt chẽ hơn, kỹ hơn, công phu hơn, thu thập được nhiều ý kiến đóng góp của các chuyên gia, những người làm công tác thực tiễn hơn so với quy trình soạn thảo và ban hành Nghị định, thế nhưng chất lượng của nhiều văn bản luật còn chưa cao. Chất lượng của Nghị định sẽ như thế nào khi chúng được soạn thảo và ban hành với thủ tục đơn giản hơn, nhanh chóng hơn? Thực tiễn cho thấy rằng, trong rất nhiều trường hợp, Nghị định của Chính phủ ít có tính ổn định và luôn được thay đổi.

Thứ hai, nếu Nghị định được xây dựng theo hướng để huớng dẫn thi hành từng loại hoạt động được quy định trong Luật thương mại thì tại sao chúng ta không đầu tư thêm để có thể nâng chúng thành Luật-mỗi loại hoạt động thương mại được một Luật điều chỉnh như cách làm của hầu hết các nước và không cần đến các quy định trong Luật thương mại. Ngày nay hầu hết các chuyên gia của Pháp, Đức cũng như nhiều nước khác thường thống nhất quan điểm là không nên ban hành một bộ luật thương mại như bộ luật dân sự vì tính không ổn định của các quan hệ thương mại. Việc ban hành nhiều văn bản đơn hành tỏ ra phù hợp hơn (7) . Chúng tôi cho rằng, nếu theo cách làm này thì pháp luật về thương mại sẽ trở nên minh bạch hơn, rõ ràng hơn, nhất quán hơn và tất nhiên sẽ dễ áp dụng hơn. Không những thế, thủ tục sửa đổi cũng sẽ đơn giản hơn nếu có một số quy định của luật hay một luật nào đó trở nên không phù hợp với sự thay đổi của hoạt động kinh doanh thương mại.

5. Chúng tôi nhận thấy rằng, xét theo nội dung, Luật thương mại 2005 lại được coi là một thứ luật chung. Và nếu như vậy thì, như đã nói ở trên, phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại mặc dù được mở rộng so với Luật thương mại 1997 nhưng vẫn còn rất hẹp, bởi họat động kinh doanh thương mại không chỉ bao gồm các hoạt động được Luật thương mại 2005 điều chỉnh mà còn vô vàn loại hoạt động khác nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Luật này.

Nhóm thứ hai của loại quy phạm thứ hai của Luật thương mại với tư cách là một lĩnh vực của pháp luật bao gồm các quy phạm điều chỉnh hoạt động tổ chức kinh doanh thương mại. Những quy phạm loại này không được quy định trong Luật thương mại 2005 mà chúng được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau của Việt Nam, như: Luật doanh nghiệp, Luật phá sản, Luật các công cụ chuyển nhượng, Pháp lệnh trọng tài thương mại, Bộ luật hàng hải. Khi xem xét Bộ luật thương mại của các nuớc có thể nhận thấy rằng, nội dung của chúng khác với nội dung của Luật thương mại Việt Nam. Ví dụ, Bộ luật thương mại 1807 của Pháp có 4 quyển: quyển 1: bao gồm các quy phạm quy định địa vị pháp lý của thương nhân (cá nhân và công ty), hoạt động trung gian trong thương mại và hối phiếu. Các quy định trong quyển này giống với các quy định của pháp luật Việt Nam về chủ thể kinh doanh, một phần của Luật thương mại 2005 và Luật về các công cụ chuyển nhượng; Quyển 2: Bao gồm các quy định về thương mại hàng hải, có thế nói quyển này gần giống với Bộ luật hàng hải Việt Nam; Quyển 3: Phá sản có nội dung gần giống với Luật phá sản Việt Nam; Quyển 4 bao gồm các quy định về giải quyết tranh chấp thương mại, có lẽ nội dung của quyền này gần giống với Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 và một phần quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Chúng tôi cho rằng, cần phải hiểu và sử dụng thuật ngữ “Luật thương mại” với tư cách là một lĩnh vực của pháp luật, là luật của thương gia và bao gồm tất cả các quy định điều chỉnh mọi hành vi nhằm mục đích sinh lời. Nếu tiếp cận theo cách này thì pháp luật thương mại sẽ có tính nhất quán cao hơn. Bởi cách tiếp cận nhất quán sẽ có tác động tích cực đến kỹ thuật xây dựng pháp luật, tránh được tình trạng cát cứ trong việc soạn thảo văn bản pháp luật.

Trên cơ sở phân tích ở trên, chúng tôi cho rằng, thay vì soạn thảo, ban hành Luật thương mại, có lẽ sẽ tốt hơn nếu chúng ta xây dựng các luật riêng biệt cho từng hoạt động thương mại như: Luật về đại diện thương mại, Luật về nhượng quyền thương mại, Luật mua bán hàng hóa qua sở giao dịch…Điều này, như đã đề cập ở trên, là phù hợp với xu hướng xây dựng pháp luật thương mại trên thế giới hiện nay.

________________________

(1) Xem: Trần Thị Bạch Dương, Sự cần thiết sửa đổi Luật thương mại và những điểm mới của Luật thương mại 2005. Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11 (211) 2005.

(2) Xem: Kỷ yếu hội thảo “Những điểm mới và hạn chế của Luật thương mại 2005”. Khoa Kinh tế -ĐHQG TP. Hồ Chí Minh tổ chức, tháng 6/2006.

(3) Xem: Dương Anh Sơn. Bàn về khoản 3 Điều 1 Luật thương mại 2005. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật. Số 12/2006.

(4) Xem: Nguyễn Như Phát, Điều kiện thu hút sự tham gia của các nhà khoa học vào hoạt động xây dựng pháp luật. Tạp chí Nghiên cứu lập pháp. Số 10/2006.

(5) Xem: Dương Anh Sơn, tài liệu đã dẫn .

(6) Việc phân biệt hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại chỉ mang tính ước lệ. Pháp luật của nhiều nước không có sự phân biệt trên thực tế do pháp luật về hợp đồng có sự thống nhất ở mức độ cao.

(7) Xem: Nguyễn Am Hiểu. Kinh nghiệm pháp điển hóa pháp luật và vấn đề của Việt Nam. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6/2006. tr16.
Công ty Luật TNHH Sài Gòn Luật

Category: My files | Added by: giang1977
Views: 344 | Downloads: 0 | Rating: 0.0/0
Total comments: 0
Only registered users can add comments.
[ Registration | Login ]